Marketing online:

Tiêu điểm

Bài mới nhất

Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyền thông Marketing. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyền thông Marketing. Hiển thị tất cả bài đăng

7 cách hiệu quả cho hoạt động Trade Marketing

Đăng bởi: Quý Hải | Nhà tư vấn on 3 thg 4, 2014 | 4/03/2014

[Tư vấn marketing] Một nghiên cứu gần đây của Nielsen cho rằng ít hơn một nửa các chương trình xúc tiến thương mại không tạo nên sự gia tăng về nhận diện thương hiệu hay danh mục hàng hóa. Điều này thật đáng buồn, bởi vì mục đích chính của tiếp thị thương mại là để làm điều đó: phát triển thương hiệu bằng cách tăng nhu cầu ở cấp độ bán lẻ / nhà phân phối.

Có bảy khía cạnh cần tập trung vào nếu muốn phát triển thương hiệu một cách bền vững.

Quảng cáo trực tuyến tại Việt Nam: tiềm năng và đa dạng!

Đăng bởi: Quý Hải | Nhà tư vấn on 3 thg 7, 2012 | 7/03/2012

[Marketing4u - Quảng cáo] "Facebook có đến 70% người dùng internet ở Việt Nam tham gia!...".Quảng cáo trực tuyến được xem là “con gà đẻ trứng vàng”. Tuy nhiên, các doanh nghiệp quảng cáo Việt Nam vẫn chậm chân hơn nhiều so với những công ty nước ngoài. Kết quả điều tra hành vi người tiêu dùng internet tại Việt Nam do Tập đoàn Cimigo (chuyên về nghiên cứu thị trường và thương hiệu) thực hiện, khảo sát trên 5.800 người độ tuổi từ 15 đến 64 ở 12 đô thị trong nước cho thấy: Năm 2003, tỉ lệ người dùng internet ở Việt Nam chỉ là 4%, đến năm 2007 tăng lên 27% và đến năm 2011 tiếp tục tăng, cán mức 35%. Cùng với tốc độ phát triển cực nhanh của internet, quảng cáo trực tuyến trở thành mảnh đất màu mỡ.

Tiềm năng rất lớn

Hiện tại, quảng cáo trực tuyến tại Việt Nam chủ yếu thông qua các cỗ máy tìm kiếm; đặt logo hoặc banner tại các website có lượng người truy cập lớn, trong đó có nhiều đối tượng phù hợp với khách hàng tiềm năng của sản phẩm; thông qua hệ thống email; quảng cáo đa phương tiện.

Ông Nguyễn Quý Cáp, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Quảng cáo Trẻ, cho biết quảng cáo trực tuyến đang phát triển khá nhanh với doanh thu chiếm khoảng 2%-3% tổng doanh thu ngành. Theo khảo sát của Kantar Media (tiến hành từ tháng 4-2010 đến tháng 3-2011), thị trường quảng cáo trực tuyến có tổng doanh thu 26,4 triệu USD (tương đương hơn 550 tỉ đồng) với 10 website lớn. Tuy nhiên, con số này chưa phản ánh đúng doanh thu thực của thị trường này vì rất khó thống kê doanh thu từ quảng cáo của các trang mạng, kể cả các website game online.

Đa dạng quảng cáo trực tuyến

Ông Nguyễn Trung Thẳng, Giám đốc Masso Group, cho biết Masso đã tham gia quảng cáo trực tuyến 3 năm nay và doanh số tăng đều từ vài chục đến 100%/năm. Lâu nay, quảng cáo truyền thống là lựa chọn hàng đầu của tất cả các nhãn hàng. Dù giá quảng cáo trên truyền hình rất đắt, tăng liên tục nhưng các doanh nghiệp (DN) vẫn cắn răng chi trả với mong muốn quảng cáo của họ được đông đảo khách hàng chú ý.

Thế nhưng, trước sự bùng nổ mạnh mẽ của các kênh truyền hình trong nước và quốc tế, khách hàng có rất nhiều lựa chọn nên việc kéo người tiêu dùng theo dõi quảng cáo trên truyền hình là không dễ. Ngược lại, quảng cáo trực tuyến đã chứng minh được rất nhiều ưu điểm vượt trội mà quảng cáo truyền thống không đáp ứng được. Chẳng hạn như phân khúc khách hàng rõ ràng, việc khảo sát thông tin người sử dụng được thực hiện khá đơn giản, giúp DN định hướng chính xác cách thức tiếp cận khách hàng tiềm năng hiệu quả nhất.

Song song đó, quảng cáo trực tuyến còn ghi nhận được phản ứng của khách hàng (bao nhiêu người nhìn thấy mẩu quảng cáo, bao nhiêu người đã click vào, xem thông tin gì…). Cơ sở dữ liệu này giúp DN xác định được thị hiếu khách hàng để từ đó xây dựng chiến lược quảng cáo lâu dài, hiệu quả. Ngoài ra, quảng cáo trực tuyến còn tận dụng được sự hỗ trợ của công nghệ mới, DN có thể thỏa sức sáng tạo, làm mới mình để tạo sự chú ý; chi phí quảng cáo trực tuyến cũng không quá đắt.

Đại diện một số DN cũng cho rằng tại Việt Nam, các trang mạng xã hội đang bùng nổ (năm 2011, theo Cimigo, riêng Facebook có đến 70% người dùng internet ở Việt Nam tham gia) và thương mại điện tử ngày càng phổ biến. Cũng theo khảo sát nói trên của Cimigo, 5% số người được khảo sát cho biết họ dùng internet để thanh toán trực tuyến mỗi ngày, 11% số người cho biết họ thực hiện giao dịch qua mạng mỗi tuần một lần, 51% số người được khảo sát tin rằng họ có thể mua được hàng hóa qua internet. Đây chính là tiềm năng to lớn, tạo sức bật cho quảng cáo trực tuyến tại Việt Nam phát triển.

Doanh nghiệp Việt theo đuôi

Theo ông Đỗ Kim Dũng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Đào tạo Quảng cáo Việt Nam (ARTI), Chủ tịch HĐQT Công ty Quảng cáo An Tiêm, các công ty sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam đã bắt đầu quan tâm đến quảng cáo trực tuyến và chịu chi tiền cho loại hình quảng cáo này.

Tuy nhiên, người Việt vốn khó thay đổi thói quen, thị hiếu nên quảng cáo trực tuyến hiện chưa phải là lựa chọn số một của họ. Còn rất nhiều DN quảng cáo, kể cả một số DN lớn, vẫn chưa hiểu sâu về quảng cáo trực tuyến và chưa sẵn sàng tham gia lĩnh vực này. Ngược lại, các công ty quảng cáo nước ngoài mạnh về tài chính, công nghệ và tầm nhìn đã “tấn công” vào quảng cáo trực tuyến, trong đó TBWA (thuộc Tập đoàn Omnicom) hiện khá mạnh về truyền thông số.

Ông Nguyễn Trung Thẳng cho rằng dù một số DN nhỏ và vừa của Việt Nam tiên phong trong lĩnh vực khai thác mạng xã hội đã “nhảy” vào quảng cáo trực tuyến nhưng cũng giống như quảng cáo truyền thống, hiện vẫn chưa có DN đủ tầm để hoạch định chiến lược quảng cáo trực tuyến và thực thi chiến lược đó. Những hạn chế về nhân sự, công nghệ… chính là trở ngại khiến DN quảng cáo Việt Nam còn đứng bên lề quảng cáo trực tuyến.

5-7 năm nữa sẽ bùng nổ

Theo ARTI, các phương tiện truyền thông của tương lai sẽ bao gồm truyền thông xã hội, điện thoại di động, trò chơi, video trực tuyến và công cụ tìm kiếm. Trên cơ sở đó, quảng cáo trực tuyến và truyền thông hiện đại sẽ phát triển mạnh trong vòng 5-7 năm nữa. Nhận định này càng được củng cố bởi theo khảo sát của Kantar Media (thực hiện năm 2011), đối tượng sử dụng internet chủ yếu là giới trẻ; hơn 65% số người sử dụng internet tại 4 TP lớn nhất Việt Nam ở độ tuổi 15-29.

Theo NLĐ

Truyền thông mạng xã hội: "Trả lại tên cho em"!

Đăng bởi: Quý Hải | Nhà tư vấn on 2 thg 7, 2012 | 7/02/2012

[Marketing4u - Social Marketing] Ngày nay, truyền thông mạng xã hội - social media (TTMXH) đang được đề cập đến như một kênh tiếp thị hữu hiệu. Một loạt công ty lập tức trang bị cho mình những địa chỉ blog, facebook, twitter, fanpage v.v… Trào lưu TTMXH dường như đang cuốn hút toàn bộ thế giới kinh doanh hiện đại trong cơn sốt của nó.

Công cụ quyền lực?

TTMXH có rất nhiều thế mạnh. Đó là khả năng tương tác hầu như tức thì, 24/24 và có sức lan tỏa mạnh mẽ. Nó có sức mạnh vượt trội hơn hẳn so với những kênh truyền thông truyền thống. Điều quan trọng hơn cả, so sánh với phương thức marketing truyền thống, dường như TTMXH có giá thành rẻ hơn hẳn. 

Nhưng liệu rằng TTMXH có hiệu quả? 

Không hẳn!

Một trong những cuốn sách tạo nên một cú hích mạnh đối với TTMXH chính là Quảng cáo thoái vị và PR lên ngôi của hai tác giả Al Ries và Laura Ries. Sau khi cuốn sách ra đời, rất nhiều công ty đã chuyển hướng từ quảng cáo sang hình thức PR. 

Và PR qua mạng xã hội dường như là một cách thức được các công ty truyền thông ưa chuộng. Chúng ta chứng kiến hàng loạt những chiến dịch PR được thực hiện qua TTMXH như những cuộc thi, những bài viết trên blog và nội dung post lên facebook mong thu thập được thật nhiều cú click và số lượng like càng nhiều càng tốt…

Đáng tiếc, quá nhiều chiến dịch TTMXH không đạt được gì hơn ngoài sự thất bại!

Thất bại thực ra là một kết quả xác đáng. Thứ nhất: “Quảng cáo tuy có thoái vị và PR tuy có lên ngôi” nhưng không có nghĩa là PR có thể thay thế được hoàn toàn những chức năng của quảng cáo. 

Thứ hai, TTMXH là gì? TTMXH rốt cuộc là sự “tiến hóa” của hành động “truyền miệng” bởi MXH cho phép người ta có thể tương tác mạnh mẽ mà không qua truyền miệng (word of mouth) mà qua mạng lưới người quen biết nhau trên internet (users network). Vậy nên một chiến dịch TTMXH thành công rốt cuộc chỉ là một phương tiện truyền thông có tính tương tác mạnh mẽ do sử dụng phương thức MXH, không hơn. 

Vậy nên công cụ TTMXH hiệu quả hay không hoàn toàn phụ thuộc vào chiến lược marketing. Chính chiến lược marketing đúng đắn mới quyết định thành công của một chiến dịch TTMXH !

Chỉ là công cụ chiến thuật


Mục tiêu của marketing hiện đại là tìm ra một đặc tính nổi trội nhất mà các đối thủ trên thị trường chưa có, và chiếm lĩnh đặc tính này bằng một từ/khái niệm. Sau đó, nhiệm vụ của marketing là phải nhấn mạnh từ/khái niệm này của sản phẩm và định vị nó vào tâm trí khác hàng. 

Những thương hiệu quyền lực nhất đều làm được điều này, như Starbucks với “café cao cấp”, Google đi cùng“tìm kiếm trên mạng”, FedEx và “chuyển phát qua đêm”, Lipton gắn liền với “trà túi lọc”, Coca Cola có “nước cola”, Mc Donald’s là “thức ăn nhanh” v.v…

Và đó cũng chính là điều đầu tiên một doanh nghiệp cần phải làm. Xác định điểm mạnh nhất của mình, làm cho nó khác biệt với các thương hiệu khác và định vị nó trong tâm trí của khách hàng. Đó là mục tiêu, là chiến lược!

PR, quảng cáo, TTMXH rốt cuộc chỉ là công cụ thực hiện, có thể phát huy hiệu quả tối ưu chiến lược marketing tùy theo từng giai đoạn tiến triển của doanh nghiệp.

Việc tiến hành hàng loạt những chương trình TTMXH của các doanh nghiệp hiện nay thực ra là hành động ngược quy trình. Chiến lược marketing dành cho thương hiệu cần đi trước. TTMXH chỉ là một trong những công cụ để thực hiện chiến lược marketing dành cho thương hiệu mà thôi.

Rất nhiều trang web tạo nên những trang facebook fanpage với mong muốn kết nối với mọi người và tung ra những thông tin quảng bá cho doanh nghiệp trên trang này một cách miễn phí. Tiếc rằng, việc tạo tài khoản facebook, blog hay tweeter mà không có sự đầu tư chăm sóc thì chỉ mang lại một chiến dịch TTMXH què quặt không hơn không kém. 

TTMXH là một công cụ giao tiếp. Nghĩa là doanh nghiệp phải liên tục giao tiếp với khách hàng. Nghĩa là cần phải có một kế hoạch khai thác, những con người thực hiện công việc và ngôn ngữ sử dụng phù hợp. Nếu chỉ là thông tin đơn thuần được đăng tải lên MXH thì đó chỉ là một việc lãng phí thời gian. 

Để một chiến dịch TTMXH hiệu quả, trước tiên cần phải có một chiến lược marketing đúng đắn. 

Hãy trả lại đúng vị trí cho TTMXH. Đó là một công cụ quyền lực nhưng không phải là một công cụ vạn năng, lại càng không phải là một lối thoát cho một doanh nghiệp đang vướng phải những chiến lược marketing sai lầm. 

Nói tóm lại: TTMXH chỉ mang tính chiến thuật. Định hướng marketing mới là chiến lược. Một chiến thuật không thể thành công nếu áp dụng một chiến lược sai lầm.

Theo DNSG (Hoàng Tùng)

Tương tác thật trên môi trường ảo

Đăng bởi: Quý Hải | Nhà tư vấn on 23 thg 6, 2012 | 6/23/2012

[Marketing4u - Marketing online] Theo thống kê, hơn 30% dân số Việt Nam sử dụng internet và tại các đô thị lớn, tỷ lệ này có thể là 60-70%. Số người sử dụng các mạng xã hội ngày càng tăng và trở thành không gian tương tác không thể thiếu được giữa các thương hiệu và khách hàng.

Xu hướng toàn cầu

Nhu cầu sử dụng internet như một kênh truyền thông hiệu quả ngày càng tăng. Một trong những minh chứng cho nó là việc công ty truyền thông nào cũng mở ra bộ phận digital hoặc có người làm về digital để phục vụ khách hàng.

Bà Phan Bích Hà, Giám đốc Điều hành Tập đoàn Biz Tequila cho biết, hầuhết các công ty truyền thông nước ngoài đều phát triển mảng digital như à một “core business” - mảng kinh doanh chính. Và Tập đoàn Truyền thông Fleishman Hillard, một trong những tập đoàn truyền thông lớn nhất toàn cầu mà Biz Tequila đang hợp tác, cũng vậy.

Bà Hà cho biết thêm: “Digital Marketing là xu hướng phát triển của tương lai. Hiện nay ở Mỹ, quảng cáo, truyền thông thông qua digital chiếm hơn 22% tổng ngân sách quảng cáo. Năm 2011, mặc dù kinh tế suy thoái, nhưng chi phí quảng cáo, truyền thông qua kênh digital đã tăng 14%, trong khi đó, chi phí dành cho quảng cáo qua kênh truyền thống giảm 161% so với năm trước đó”.

Ông Bùi Ngọc Anh, Giám đốc Điều hànhCông ty AVC Elderman cho rằng, tương lai của PR (quan hệ công chúng) sẽ là “Digital and public engagement” - Truyền thông số và thu hút công chúng, trong đó mạng xã hội và thiết bị di động cùng các dịch vụ tương tác trên điện thoại di động sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút và xây dựng mối quan hệ với công chúng. 

Tập đoàn PR Edelman (công ty mẹ của AVC Edelman), tập đoàn PR hàng đầu thế giới đã đầu tư rất nhiềuvào truyền thông số để có thể đón đầu xu hướng này. Ông chia sẻ về hậu quả mà social media có thể gây ra đối với một thương hiệu: Năm 2009, nhạc sĩ người Canada David Carrol đã đưa lên YouTube clip ca nhạc “United Breaks Guitars” (United làm vỡ đàn ghi ta).


Bài hát nói về Hãng Hàng không United Airlines (Mỹ) từ chối bồi thường cho cây đàn guitar của anh bị gãy trong quá trình bốc dỡ hành lý. Chỉ trong vòng 10 ngày đầu, bài hát đã có hơn 4 triệu người xem, và cổ phiếu của hãng hàng không này mất 10% sau đó, gây thiệt hại hơn 180 triệu USD cho những nhà đầu tư của họ.

Sự quyến rũ của tương tác trên mạng

Thật vậy, social media đã trở thành nơi mà “public” công chúng gặp gỡ, tương tác, chia sẻ quan điểmvà không ngừng ảnh hưởng lẫn nhau. 

Trên thế giới, nhiều thương hiệu đã tận dụng chúng và tạo các trang fan page trên Facebook để có nhiều người “like” (thích), comment (nhận định), share (chia sẻ), talking about it (nói về nó), chẳng hạn như thương hiệu Coca Cola có tới hơn 40 triệu người like hoặc hơn 300 ngàn người đang nói về nó.

Số người “like” Coca Cola còn nhiều hơn cả số người like Megan Fox, Beyonce và Adam Sandler cộng lại. Coca Cola khuyến khích người dùng đăng những hình ảnh có liên quan đến nó, và đăng tải những sự kiện và chương trình khuyến mãi khắp nơi.

Các thương hiệu gần gũi giới trẻ như Disney, MTV, Converse, Starbuck,... cũng có đông đảo người “like” trên Facebook. Mới đây, ông Vương Quang Khải - Phó tổng giám đốc Công ty cổ phần VNG công bố với báo giới rằng “ZingMe vừa cán mốc 1 triệu hình ảnh được chia sẻ mỗi ngày. Tức là mỗi giây trôi qua có gần 12 hình ảnh được đăng tải trênmạng xã hội Zing Me”.

Theo đó, một người dùng Zing Me chia sẻ 4.01 hình ảnh lên mạng xã hội, trong khi đó người dùng Instagram và Flickr có số lượng chia sẻ lần lượt chỉ là 1 và 0.78 hình ảnh (trên toàncầu). Có vẻ như người Việt Nam rất thích chia sẻ hình ảnh?


Tương tự, ở Việt Nam, nhiều nhãn hàng lớn sử dụng social media để tương tác với khách hàng như Unilever với các nhãn Sunsilk, Pond, kem đánh răng Close Up... Hoặc mới đây, sự kiện SoundFest của CocaCola và Samsung cũng mở microsite để thu hút và tương tác với công chúng. 

Một đặc tính nổi bật khiến tương tác online hấp dẫn các nhãn hàng là tính “đo đếm” được số người like, share, comment, họ đọc cái gì, trong bao lâu... Nhờ vậy mà tìm ra được các đặc điểm của cộng đồng, những chủ đề họ ưa thích, nơi chốn họ sinh sống... để tiếp cận khách hàng tốt hơn.

Vậy để thu hút công chúng trên mạng có dễ không, khi mà “nhà nhà online, người người online”? Theo ông Nguyễn Thanh Sơn, Tổng giám đốc T&A Ogilvy, truyền thông xã hội có các kênh tương tác (hay các nền tảng tương tác) rất đa dạng, ví dụ như mạng xã hội (như Facebook, Linkedin), chia sẻ đa phương tiện (như YouTube, Flickr, clip.vn), blogging (Wordpress, Yahoo360...), hay micro-blogging (như Twitter), các diễn đàn mạng (như webtretho, lamchame...), chia sẻ tin tức (YahooNews, Google news...), hỏi đáp (Yahoo Q&A...).

Một trong những điều cần chú ý là biết chọn nơi nào phù hợp với đối tượng cần truyền thông. T&A Ogilvy từng giành một giải thưởng quốc tế vùng châu Á - Thái Bình Dương về sử dụng truyền thông xã hội một cách hiệu quả cho chương trình của FHI (Family Healthcare International - nhằm truyền thông chống AIDS tới cộng đồng đồng tính nam.

Vì đặc tính của người đồng tính là thích “ẩn danh” nên môi trường truyền thông xã hội thích hợp nhất là các diễn đàn tranh luận. T&A Ogilvy đã tạo ra cộng đồng adamzone.vn, một cộng đồng trao đổi riêng cho người đồng tính nam để tương tác và xây dựng các chương trình truyền thông cho họ.

Theo DNSG - Nhị Giang

Kiểu hỗn hợp kênh truyền thông và tại sao chúng không hiệu quả

Đăng bởi: Quý Hải | Nhà tư vấn on 22 thg 3, 2012 | 3/22/2012

                                   
 [Marketing4u.vn] - Khi quảng cáo trực tuyến gia tăng, nó chắc chắn ngày càng phức tạp hơn. Ngày nay, các marketer gặp nhiều thử thách trong việc ứng dụng các phương tiện kỹ thuật phức tạp – từ tìm kiếm cho đến việc kết hợp công cụ quảng cáo và hơn thế – nhằm đạt được các kết quả mong đợi. Mỗi kênh có các nguyên tắc, mục tiêu và phương pháp quản lý riêng nhằm đạt được sự nhịp nhàng.  
Cho dù, trên lý thuyết, mỗi kênh có thể hoạt động độc lập. Tuy nhiên, có thể sẽ phát sinh nhiều vấn đề khi chúng cùng hoạt động trong một môi trường chung.
Thiếu sự phối hợp sẽ dẫn đến những mâu thuẫn có thể phá hủy mối liên kết và gia tăng xung đột giữa các hoạt động. Nguy hiểm hơn, các kết quả chắc chắn đạt được có thể bị bỏ lỡ bởi cái nhìn thiếu bao quát.
Tạo ra một hỗn hợp phù hợp từ các kênh đơn lẻ không đủ để tối đa hóa những cơ hội mà các kênh đem lại; đúng hơn, các nhà quảng cáo cần có một lý thuyết tiếp cận và xây dựng các nguyên tắc riêng cho mỗi kênh.
Nhưng với quá nhiều kênh và quá nhiều nguyên tắc, một nhà quảng cáo nên bắt đầu từ đâu?

Dựa báo khó khăn và thoát khỏi xung đột.

Để cảm nhận được điều gì bạn đang làm đúng, điều gì bạn đang làm quá tốt, tháo gỡ những xung đột và loại bỏ những hoạt động vô ích. Bạn có thể nhận thấy vài điều bạn muốn thay đổi. Chẳng hạn, có thể bạn đang tập trung vào nhiều kênh trên mức độ cần thiết nhằm thu hút khách hàng, trong khi đối thủ của bạn sử dụng ít kênh hơn.

Điểm bắt đầu: Hãy nhìn vào những gì đối thủ của bạn sẵn sàng chi để có một khách hàng. Chi phí mục tiêu tương quan của bạn như thế nào? Bạn có một kênh, ở đó bạn trả 5 USD để có một khách hàng, trong khi đối thủ của bạn là 7 USD? Nếu vậy, bạn có biết tại sao không?

Nếu bạn đang hoạt động với một kênh, thay vì rộng hơn. Bạn có thể nhận thấy chi phí để đạt tới mục tiêu của bạn không tối ưu cho toàn bộ chiến dịch.

Quản lý chi phí hiệu quả hơn

Với việc sử dụng cùng một lúc nhiều kênh, chi phí tăng lên nhanh chóng, điều này tạo ra thử thách lớn đối với các marketer, đặc biệt là trong môi trường kinh tế mà mỗi đồng bỏ ra cần có sự cân nhắc. Nhìn vào chi phí cho mỗi kênh là cách tốt nhất để có được sự sắp xếp hợp lý, hiệu quả hơn và kiểm soát tốt chi phí, trong khi vẫn đạt được những kết quả như mong đợi.

Điểm bắt đầu: Lùi một bước và xem lại mục tiêu của bạn, và mỗi kênh có thể hỗ trợ các mục tiêu đó như thế nào. Đo lường mức độ ảnh hưởng, chi phí của các hoạt động cả trên thực tại và kế hoạch. Sử dụng các kế hoạch chiến lược, chẳng hạn như giám sát, báo cáo, quản lý gia tăng giá trị sống của khách hàng, rà soát chiến dịch tới đánh giá hiệu quả đầu tư và lựa chọn kênh truyền thông phù hợp.

Kiểm tra, tối ưu hóa và kiểm tra lại lần nữa giữa các kênh.

Sự chênh lệch lớn dần trong kiểm tra có thể ảnh hưởng lớn tới ROI của một chiến dịch đơn lẻ và cũng có thể được áp dụng toàn bộ chiến dịch marketing đa kênh. Ví dụ, bạn có thể nhận thấy một điều thông qua hoạt động kiểm tra, đó là khách hàng mục tiêu của bạn phản ứng tích cực hơn khi bạn “giảm dollars” so với “giảm %”. Những kết quả này có thể cũng được sử dụng tới xác định, đâu là điểm bắt đầu để cải thiện các kênh khác.

Điểm bắt đầu: Kiểm tra sáng tạo, những thứ bạn cung cấp cho khách hàng, những sắp xếp, và thực hiện điều này thường xuyên ở mức có thể, và đừng bao giờ để thứ gì đó vào cột “mất”. Khi bạn tạo ra những tiến bộ dựa vào kết quả kiểm tra mỗi kênh và tối đa chúng, hãy xem lại những thứ không hiệu quả trước đó, đặc biệt khi bạn đang xem xét sự khác nhau giữa các kênh. Bạn không bao giờ biết – thứ gì đó không hiệu quả trước khi bắt đầu một sự kết hợp mới.

Gắn kết đội ngũ trong và ngoài

Trong bất kỳ chiến dịch nào, đặc biệt là một chiến dịch đa kênh, đảm bảo mọi người có sự phối hợp với nhau rất quan trọng. Thậm chí chỉ cần một ai đó mất kết nối, có thể một cơ hội lớn đã bị bỏ qua. Chẳng hạn, bộ phận IT thay đổi URLs mà không thông bao cho các marketer, dẫn đến hướng truy cập sai khu vực, kết quả là mất lưu lượng, sai lầm này có thể sẽ không bao giờ phục hồi được, nó chẳng khác gì một trải nghiệm tồi tệ.

Điểm bắt đầu: Kết hợp mọi thành viên trong đội và những người liên quan trong thảo luận ngay từ khi bắt đầu chiến dịch. Giữ cho đường truyền thông tin luôn mở khi có thay đổi phát sinh.

Dự báo những thay đổi của ngành.

Không gian ảo của thế giới trực tuyến đã xóa bỏ hoàn toàn những giới hạn của truyền thông truyền thống. Những từ khóa trước đây liên kết với thương hiệu của bạn thì hiện tại chỉ là một trò chơi công khai cho đối thủ cạnh tranh, những từ đó có thể hướng sự truy cập ra khỏi website của bạn và trược tiếp tới website của đối thủ. Những thay đổi gần đây cho Google chỉ bao gồm những thứ phức tạp, có ảnh hưởng đáng kế đến ROI của marketers và sự kết hợp các kênh của họ.

Điểm bắt đầu: Lập bảng kê người giám sát và bảo vệ thương hiệu của bạn, cũng như cách thức môi trường mới sẽ ảnh hưởng đến hoạt động giám sát đó. Ví dụ, những mở rộng của Google đã ảnh hưởng không chỉ đến ROI của các chiến dịch mà còn ảnh hưởng đến cả sự tôn trọng các nguyên tắc liên kết trong tìm kiềm. Và nó cùng từng thay đổi cả quy tắc tôn trọng nhãn hiệu,  điều này sẽ quyết định bạn có thể gia tăng những liên kết hữu ích hay không – hoặc trao lợi nhuận cho đối thủ của bạn.
Nếu bạn không có một thương hiệu có thể phân biệt, hãy nhận dạng các chiến lược có thể bảo vệ bạn, chẳng hạn như tập trung vào phát triển công việc kinh doanh hiện tại, liên kết…
Hãy nhớ rằng đây chính là những điều giúp cho các kênh của bạn được tối ưu hóa và gắn kết. Hãy để hỗn hợp marketing của bạn dẫn bạn đến cấp độ mới của sự hiệu quả và hợp tác dẫn đến thành công dài hạn.

(Thúy Hương – Công ty thương hiệu LANTABRAND – sưu tầm và lược dịch)

Marketing và lối ra trong khủng hoảng

Đăng bởi: Quý Hải | Nhà tư vấn on 21 thg 3, 2012 | 3/21/2012

[Marketing4u.vn] Trong thời điểm suy thoái thay vì ngồi chờ đợi cho suy thoái qua đi chúng ta hãy thay đổi cách làm marketing sao cho phù hợp nhất với thời điểm hiện tại và coi đó như là một điều hiển nhiên và bình thường.
Lâu nay, suy nghĩ về marketing thường được “đóng khung” trong những lý thuyết đã trở thành kinh điển như 4P, 3C...; nhưng thực chất, xã hội và khách hàng hiện nay đã thay đổi rất nhiều.
Trong bối cảnh nền kinh tế suy thoái và khủng hoảng, danh mục cắt giảm đầu tiên mà doanh nghiệp thường nghĩ đến là marketing (tiếp thị).
Vì mọi người thường nghĩ rằng, khi nền kinh tế rơi vào suy thoái, người tiêu dùng nào cũng sẽ “thắt lưng buộc bụng” và chẳng mấy lưu tâm đến những sự kiện quảng bá hào nhoáng nữa. Lúc này, marketing sẽ là một thứ “xa xỉ phẩm”, chỉ gây ra tốn kém chứ không đem lại bất cứ hiệu quả nào.
Thực tế có phải như vậy?
Tư duy lại vai trò của marketing
Peter Drucker, người được xem là “cha đẻ”của quản trị kinh doanh hiện đại từng nói rằng: “Mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động kinh doanh là tạo ra khách hàng. Và chỉ có hai chức năng trong doanh nghiệp có thể làm được điều này, đó là marketing và sáng tạo (innovation)”.
Có thể thấy rằng, marketing không phải là một bộ phận “chỉ biết tiêu tiền” như người ta vẫn nghĩ. Nếu như các bộ phận khác trong tổ chức chủ yếu tập trung vào việc tạo ra doanh thu và lợi nhuận bằng cách lôi kéo, chăm sóc, duy trì những khách hàng hiện tại; thì nhiệm vụ của marketing lại là tạo ra khách hàng mới bằng cách “đánh thức” những nhu cầu mới nằm ngay trong tiềm thức của khách hàng nhưng họ lại chưa từng hình dung đến nó cho đến khi có tác động của Marketing. Đó là lý do tại sao Peter Drucker cho rằng marketing xứng đáng được xếp vào danh sách những bộ phận tạo ra lợi nhuận chứ không phải là bộ phận chi phí.
Tuy nhiên, trong bối cảnh của khủng hoảng kinh tế ngày càng trở nên căng thẳng và đặt áp lực lên vai doanh nghiệp mỗi ngày, rất nhiều tổ chức đã không thể giữ được tầm nhìn dài hạn đó. Ngay cả những thương hiệu tầm cỡ thế giới như GM, Sears, Kodak, AT&T… cũng  phải đối diện với việc đánh mất vị thế của mình do không thể tìm thấy một lối ra phù hợp. Tâm lý chung của những người làm marketing là cảm thấy bất lực và bối rối khi những “vũ khí” đã từng mang lại hiệu quả tột đỉnh trước đây bỗng dưng trở nên vô hiệu.
Phải chăng, đó chỉ là khó khăn tạm thời hay là hệ quả của mức độ cạnh tranh đang ngày càng khốc liệt? Nên tạm thời “án binh bất động” đợi suy thoái qua đi hay đã đến lúc “trở mình” để thích nghi? Nên tiếp tục đầu tư để duy trì hay cắt giảm để tiết kiệm chi phí? Hàng loạt câu hỏi khiến những nhà lãnh đạo cảm thấy mình như rơi vào một “mê hồn trận” mà chẳng biết lối ra nào sẽ dẫn đến một chiến lược marketing phù hợp.
Lối ra nào trong giai đoạn khủng hoảng?
Trong lần tái bản cuốn “Quản trị Marketing” – cuốn sách được xem là “gối đầu giường” của dân marketing, cha đẻ marketing hiện đại Philip Kotler cũng đã phải cập nhật lại lý thuyết của mình cho phù hợp với bối cảnh mới. Ông cho rằng: “Đừng xem chuyện suy thoái kinh tế chỉ là một giai đoạn tạm thời sẽ nhanh chóng qua đi mà phải nhìn nhận nó như là một thực tế hiển hiện và bình thường. Do vậy, hãy thay đổi cách làm marketing sao cho phù hợp với thực tế đó, chứ đừng bao giờ chỉ cắt giảm và ngồi đợi suy thoái qua đi.”
Lâu nay, suy nghĩ về marketing thường được “đóng khung” trong những lý thuyết đã trở thành kinh điển như 4P, 3C...; nhưng thực chất, xã hội và khách hàng hiện nay đã thay đổi rất nhiều. Để tồn tại và phát triển, không còn cách nào khác là phải nhận thức rõ sự thay đổi này, để có thể đưa ra những cách nghĩ mới, cách làm mới thật sự hiệu quả.
Ví dụ, khi quảng cáo trên truyền hình không tạo được hiệu ứng tốt nữa, chúng ta thường vội vã kết luận rằng marketing không còn hiệu quả trong giai đoạn suy thoái rồi cắt giảm ngân sách. Trong khi đó, tại sao chúng ta không thử chuyển sang các giải pháp truyền thông số/truyền thông xã hội mới như Blog, Webcast, Videocast, Postcast … để giải quyết vấn đề với chi phí thấp hơn rất nhiều, mà lại phù hợp với xu thế phát triển của xã hội?
Bên cạnh đó, vì marketing giữ vai trò thiết yếu trong việc tạo ra doanh thu tương lai cho cả tổ chức, nên không thể xem đó chỉ là một chức năng mang tính chuyên môn giao cho một bộ phận mà mà phải là công việc mang tính chiến lược, cần sự suy nghĩ và góp sức của cả tổ chức.
Nói cách khác, một chiến lược marketing hiệu quả chỉ được tạo ra khi quy trình hoạch định chiến lược đó có sự tham gia của các cấp lãnh đạo và các bộ phận có liên quan trong việc thu thập thông tin và xác định những hướng đi tiềm năng.
Đồng thời, đối tượng mà nó nhắm tới không chỉ là khách hàng mà gồm cả những ai có ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp như các nhà phân phối, nhà cung cấp, nhân viên, cổ đông và cộng đồng.
Và như vậy, marketing phải luôn là trung tâm của mọi sự thay đổi và bao quát được những vấn đề thực tế mới. Nếu thất bại trong việc chỉ ra được những thách thức mà doanh nghiệp sẽ phải đối mặt, marketing sẽ trở nên vô dụng, thậm chí ảnh hưởng xấu đến kết quả kinh doanh.
Nhưng nếu được thay đổi hiệu quả, nó sẽ là sợi dây vô hình gắn kết các mối tương quan trong và ngoài tổ chức. Điều này sẽ mang lại một lợi thế vô cùng lớn cho doanh nghiệp. Chính vì thế mà “Cha đẻ”của quản trị hiện đại đã một lần nữa khẳng định: “marketing đúng nghĩa sẽ là nơi phải tạo được khả năng bao phủ toàn bộ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp”
Vneconomy

Bắt mạch Marketing Online 2012

Đăng bởi: Quý Hải | Nhà tư vấn on 19 thg 3, 2012 | 3/19/2012

[Tiếp thị trực tuyến] Trong năm 2012 được dự báo nhiều khó khăn thì các doanh nghiệp phải cắt giảm nhiều chi phí, trong đó chịu ảnh hưởng nhiều nhất là ngân sách dành cho Marketing. Doanh nghiệp sẽ tìm đến những phương thức mới và ít tốn kém, trong đó quảng cáo hiển thị và truyền thông xã hội là 2 kênh hấp dẫn được nhiều doanh nghiệp lựa chọn.
Quảng cáo tìm kiếm sẽ trỗi dậy trong năm nay.

Mỗi giây trôi qua chúng ta lại mất đi hàng ngàn cơ hội tiếp cận với người tiêu dùng. Phải hiện diện liên tục 24/7/365 trên Google và khi tung ra sản phẩm hay thông điệp mới thì chỉ cần đẩy mạnh truyền thông hơn, thay vì cứ vài tháng lại chạy quảng cáo truyền hình hay báo chí một lần, đứt đoạn”. Lời chia sẻ của một nhà quản lý tại một tập đoàn ôtô hàng đầu thế giới cho thấy tầm quan trọng của chiến lược tiếp thị trực tuyến bài bản, trong đó quảng cáo tìm kiếm, quảng cáo hiển thị và truyền thông xã hội mang đến cho doanh nghiệp cơ hội kết nối liên tục với người tiêu dùng.
Quảng cáo hiển thị được ưa chuộng
Quảng cáo hiển thị là kênh tiếp thị trực tuyến đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam và đang phát triển mạnh mẽ. Theo hãng nghiên cứu truyền thông Kantar Media, chi tiêu cho loại hình này tại Việt Nam vào khoảng 26,3 triệu USD trong giai đoạn 4.2010-3.2011. Hầu hết người làm marketing đều ưa chuộng hình thức này vì chỉ cần vào duyệt website là có thể thấy quảng cáo của mình. Hình thức này cũng trực quan sinh động, gần gũi với Marketing truyền thống hơn. Tuy nhiên, để có thể chạy liên tục thì đòi hỏi một kinh phí khá lớn và mẫu quảng cáo cũng cần thay đổi để tránh gây nhàm chán cho người dùng. Do vậy quảng cáo hiển thị hiện nay vẫn chủ yếu chạy theo từng chiến dịch. Tâm lý thường thấy là thương hiệu nào cũng muốn quảng cáo của mình xuất hiện ở trang chủ của các website lớn nhất tại Việt Nam.
Tuy nhiên, hệ thống quảng cáo phải đổi mới nhiều hơn, cho phép thay đổi và tối ưu thông điệp marketing qua nhiều phiên bản quảng cáo khác nhau, chứ không chỉ là “thay banner một tuần một lần” như hiện nay. Hiện nay ở Việt Nam có 2 hệ thống cho phép thực hiện điều này đó là Mạng quảng cáo Innity và Mạng quảng cáo Hiển thị của Google (GDN), nhưng so về độ phủ cũng như thị hiếu khách hàng thì vẫn còn thua kém các website như VnExpress hay 24h. GDN đang được nhiều thương hiệu trên thế giới triển khai theo hình thức Always-On vì hệ thống cho phép khách hàng tùy biến ra nhiều bản khác nhau từ một phiên bản quảng cáo gốc, giúp tiết kiệm chi phí thiết kế đồng thời linh hoạt trong việc truyền tải thông điệp đến từng đối tượng mục tiêu.
Tại sao là truyền thông xã hội?
Tuy chưa được đầu tư mạnh bằng quảng cáo hiển thị nhưng truyền thông xã hội (Social Media) đã tạo ra một sức hút mạnh mẽ đối với các thương hiệu. Social Media đang chiếm vị trí gần như mặc định trong một chiến dịch Online Marketing với ngân sách không hề khiêm tốn. Một chiến dịch thông thường sẽ bao gồm các thành phần: Đăng bài viết và tạo lan truyền trên các diễn đàn; xây dựng cộng đồng trên các Mạng xã hội lớn như Facebook, Zing Me và sử dụng các blogger có sức ảnh hưởng trên mạng để tạo ra môi trường bàn luận tương tác và có tính tin cậy cao.
Đây là một sự kết nối giữa thương hiệu và khách hàng, một cuộc trò chuyện, là sự tác hợp giữa xây dựng thương hiệu và phát triển cộng đồng. Xây dựng cộng đồng online cũng như trồng cây, không ai chặt cây chỉ sau một mùa thu hoạch, ông Nguyễn Ngọc Hiếu, Giám đốc Truyền thông Ringier Việt Nam, đã ví von như vậy. Nhưng thực tế là rất nhiều chiến dịch hiện nay chỉ chạy vài tháng. Hãy tưởng tượng bạn nói chuyện với ai đó và mối quan hệ giữa đôi bên đang tốt đẹp, nhưng bỗng dưng một trong hai người biến mất, để lại người kia bơ vơ... Đây không phải là một cuộc trò chuyện một chiều trong đó bạn luôn nói về mình, mà còn phải biết lắng nghe.
The Coffee Bean Việt Nam là một trong những thành công điển hình trong việc xây dựng cộng đồng rất thành công trên Facebook. Hãng cập nhật rất nhiều thông tin khuyến mãi hấp dẫn, hình ảnh cửa hàng mới, sự kiện giao lưu âm nhạc hàng tuần, các món ăn mới trên Facebook, tạo ra mật độ tương tác rất lớn giữa các khách hàng. Những phản hồi của khách hàng về chất lượng các món ăn mới và chất lượng dịch vụ đã giúp The Coffee Bean Việt Nam không ngừng cải thiện năng lực. Tiêu chí đánh giá thành công của cộng đồng không chỉ dựa trên số lượng thành viên mà quan trọng là bạn làm gì với những thành viên này, tỉ lệ tương tác ra sao, mỗi khi bạn cập nhật thông tin thì có bao nhiêu người hưởng ứng...
Quảng cáo tìm kiếm: Google là tất yếu
Và bây giờ, hãy nói về Google. Nếu để ý kỹ thói quen sử dụng internet mỗi ngày, bạn sẽ thấy Google đã trở thành một phần tất yếu trong cuộc sống. Điểm khác biệt lớn nhất giữa quảng cáo Google và truyền hình là bạn có khả năng nhắm đến những đối tượng đang chủ động tìm kiếm giải pháp và sản phẩm mà bạn đang cung cấp, đồng thời bạn có thể thay đổi gần như tức thời thông điệp quảng cáo.
Trong năm 2012, ngân sách Online Marketing dự báo sẽ tăng do kinh tế khó khăn, doanh nghiệp sẽ tìm đến nhưng phương thức mới và ít tốn kém hơn. Quảng cáo hiển thị và truyền thông xã hội sẽ tiếp tục là những kênh hấp dẫn nhưng quảng cáo tìm kiếm sẽ dần xác lập được vị thế. Quảng cáo trên nền tảng di động cũng sẽ được quan tâm nhiều hơn với sự phổ biến của các dòng điện thoại thông minh như iPhone, điện thoại chạy trên hệ điều hành Android...
- Nguyễn Anh Hùng -
(Phương Trinh -
Theo Nhịp Cầu Đầu Tư)

Truyền thông xã hội đối với người tiêu dùng

[Social Marketing] Với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của mạng xã hội thì việc nhìn nhận chính xác xu hướng của người tiêu dùng thông qua truyền thông xã hội sẽ giúp doanh nghiệp tim ra phương thức tiếp thị hiệu quả nhất cho mình.

Theo một báo cáo mới đây của Hiệp hội các giám đốc tiếp thị toàn cầu (CMO Council), dường như đang có một sự cách biệt lớn giữa những suy nghĩ của các nhà làm tiếp thị về kỳ vọng của người tiêu dùng đối với truyền thông xã hội và mong muốn thật sự của họ về kênh thông tin này. Đa số các doanh nghiệp làm tiếp thị bằng truyền thông xã hội cho rằng người tiêu dùng “muốn được người khác biết đến mình nhiều hơn”, trong khi người tiêu dùng lại nói rằng họ muốn có những bản chào hàng (Offer) đặc biệt dành cho họ trong quá trình tham gia tương tác với truyền thông xã hội.



Dưới đây là nhiều phát hiện khác của CMO Council về tác dụng của truyền thông xã hội đối với người tiêu dùng qua suy nghĩ của doanh nghiệp và chính bản thân người tiêu dùng.
Trong số những người tiêu dùng nói rằng họ yêu thích một nhãn hiệu nào đó trên Facebook, có hơn 67% (khoảng hai phần ba) mong đợi có được một bản chào hàng dành riêng cho họ.
60% muốn được tương tác với người tiêu dùng khác để so sánh những trải nghiệm của mình với họ, còn 57% muốn tìm các trò chơi và các cuộc thi.
50% muốn tìm dịch vụ và hỗ trợ cho họ, 41% muốn chia sẻ các ý tưởng về sản phẩm mới và những nét nổi bật của chúng.
Khi một người tiêu dùng yêu thích nhãn hiệu của doanh nghiệp thì điều đó có ý nghĩa gì? Kết quả khảo sát cho thấy đa số các nhà tiếp thị xem sự gắn kết xã hội của người tiêu dùng với nhãn hiệu là nhờ nội dung thú vị của trang web xã hội. Họ không quan tâm nhiều đến việc khuyến khích lòng trung thành của những người hâm mộ nhãn hiệu.
Có đến 57% cho rằng nội dung hấp dẫn chính là yếu tố hàng đầu khiến người tiêu dùng yêu thích một nhãn hiệu nào đó qua các Mạng xã hội, khoảng 41% nghĩ rằng người tiêu dùng muốn được biết đến và 40% tin rằng người tiêu dùng quan tâm đến việc tìm kiếm các thông tin về sản phẩm.
Khoảng một phần ba các công ty có lịch sử hoạt động lâu năm cho rằng fan của họ lên các mạng xã hội để tìm các chương trình ưu đãi hay các giải thưởng, trong khi 27% nghĩ rằng người tiêu dùng muốn có những khoản tiết kiệm đặc biệt từ việc mua hàng hay những trải nghiệm dành cho những người ủng hộ nhãn hiệu.
Báo cáo nói trên cũng đưa ra kết luận là truyền thông xã hội có tác động tích cực đến các hoạt động tiếp thị. Gần một nửa (47%) các nhà làm tiếp thị lâu năm cho rằng truyền thông xã hội đã làm tăng tính phức tạp của quá trình hoạch định tiếp thị và phân bổ các nguồn lực, khoảng 55% tin rằng truyền thông xã hội cải thiện được việc lắng nghe khách hàng, gắn kết và tương tác với họ tốt hơn.
Ngoài ra, 20% cũng cho biết truyền thông xã hội đã giúp nâng cao hiệu quả của các chiến lược thâm nhập thị trường.
Xét về tính liên quan của nhãn hiệu đối với khách hàng, 57% các nhà tiếp thị cho rằng truyền thông xã hội giúp doanh nghiệp gần gũi với khách hàng hơn, trong khi 54% nghĩ rằng truyền thông xã hội giúp các doanh nghiệp xây dựng quan hệ tốt hơn với khách hàng, còn 49% đồng ý với quan điểm truyền thông xã hội giúp cải thiện khả năng nhận diện nhãn hiệu và tăng nhu cầu về sản phẩm.
Chỉ có 6% các nhà làm tiếp thị cho rằng truyền thông xã hội giúp doanh nghiệp tăng doanh thu.
Vậy người tiêu dùng nghĩ gì về truyền thông xã hội? Kết quả khảo sát cho thấy khi sử dụng truyền thông xã hội, khách hàng có khuynh hướng tạo niềm cảm hứng cho nhau về các nhãn hiệu và gắn bó với nhãn hiệu hơn: 80% cho biết có khả năng gắn bó với một nhãn hiệu hơn dựa trên đánh giá và lời khuyên của bạn bè, 74% cho biết có thể khuyến khích bạn bè dùng thử các sản phẩm mới.
Điều đáng lưu ý là khoảng 42% người tiêu dùng sử dụng truyền thông xã hội để chia sẻ những trải nghiệm tiêu cực với bạn bè về các nhãn hiệu và sản phẩm.
Về tác động dẫn đến việc mua hàng, 65% người tiêu dùng cho biết sử dụng thư điện tử để liên lạc với các công ty, 50% thông qua trang web của các doanh nghiệp để nhận biết hàng hóa mới, nhưng chỉ có 25% tìm đến các cửa hàng ngoại tuyến.
Số người sử dụng tin nhắn điện thoại di động hoặc tham gia một sự kiện nào đó để liên lạc với các công ty còn ít hơn nữa, chỉ chiếm tương ứng 12% và 6%.
(Thanh Phương -
Theo Doanh nhân Sài Gòn/Marketingprofs)

Dự báo gì cho mô hình home shopping?

Đăng bởi: Quý Hải | Nhà tư vấn on 12 thg 3, 2012 | 3/12/2012

[Marketing4u.vn] "Nhiều ưu điểm song cũng không ít rắc rối, chưa rõ đây là thời của mô hình mua sắm qua tivi hay chính là giai đoạn sàng lọc khắc nghiệt...".Nếu thường theo dõi các bộ phim truyền hình Hàn Quốc, người ta có thể dễ dàng thấy những cảnh khách hàng xem tivi, gọi điện đặt hàng và nhận hàng tại nhà. Điều này cho thấy rằng việc mua sắm qua tivi (home shopping) đang rất thịnh hành tại Hàn Quốc. Mô hình Hàn Quốc? Home shopping phổ biến tại Hàn Quốc với lịch sử phát triển khoảng 20 năm.
Có nhiều doanh nghiệp kinh doanh theo hình thức này, trong đó nổi bật là bộ 3 GS home shopping (thuộc Tập đoàn LG), CJ O Shopping (công ty mẹ của SCJ life on Vietnam) và Lotte home shopping. Tại Việt Nam, mô hình này đã có khoảng 4 năm hình thành và phát triển. Có nhiều kênh truyền hình đang phát những chương trình home shopping như Viet Home Shopping phát trên HTVC+ và SCTV5, Home Shopping Network phát trên kênh SCTV, Lotte Đất Việt phát trên VCTV14. Truyền hình cáp Việt Nam còn có hẳn kênh mua bán hàng hóa có tên TV shopping trên VCTV11.
Mô hình kinh doanh này tại Việt Nam giống với mô hình tại Hàn Quốc. Các công ty xây dựng siêu thị trên tivi với đủ các loại mặt hàng. Họ mua sóng (hoặc hợp tác) để lên sóng của một kênh trên truyền hình và phát chương trình do chính mình sản xuất. Đa phần là những chương trình giới thiệu về công dụng, tính năng của sản phẩm.

Khi muốn mua hàng, khách sẽ gọi điện thoại đến công ty để được hướng dẫn, tư vấn và đặt hàng. Sau đó, khách sẽ được giao hàng tận nhà. Khách hàng mục tiêu mà những công ty kinh doanh mô hình này nhắm đến là những người không có nhiều thời gian đi mua sắm.

Một nhà đầu tư (không muốn nêu tên) cho biết chi phí để sản xuất chương trình và chi phí phát sóng lớn hơn so với việc xây dựng và vận hành một siêu thị truyền thống. Tuy nhiên, đây được dự báo sẽ là trào lưu mua sắm mới khi người dân ngày càng bận rộn hơn. Các công ty hướng đến việc thu lợi nhuận nhỏ trên từng mặt hàng. Khi đã đạt được một lượng khách hàng đủ lớn, thương hiệu đủ mạnh, họ sẽ có được nguồn hàng giá tốt. Không những thế, các nhà sản xuất sẽ chủ động tìm đến những kênh này để quảng bá cho sản phẩm của mình. Từ đó, lợi nhuận sẽ tăng lên.

Đến thời hay đến lúc sàng lọc?

Khá giống với mô hình kinh doanh theo nhóm, mô hình home shopping đang nở rộ tại Việt Nam. Ngay cả những siêu thị truyền thống như Co.op Mart cũng gia nhập thị trường này. Và nhiều khả năng, home shopping cũng sẽ sớm đi vào giai đoạn sàng lọc như mô hình mua theo nhóm, để cuối cùng chỉ còn lại một vài gương mặt tương tự như tại Hàn Quốc.

Tính đến nay đã có 2 trong số 3 công ty kinh doanh home shopping hàng đầu tại Hàn Quốc vào Việt Nam là SCJ và Lotte, liên doanh với Saigontourist và Đất Việt. Ông Shin Yong Ho, Tổng Giám đốc Lotte Đất Việt, cho biết tính riêng tại Hàn Quốc, mảng home shopping trong năm 2010 đã chiếm đến 60% doanh thu của Tập đoàn, đạt 1,5 tỉ USD. “Việt Nam là nơi có điều kiện phát triển tương tự như Hàn Quốc hay Nhật nhưng thị trường home shopping còn trống. Đó là cơ hội”, ông nói.

Thực tế tại Việt Nam cũng đã có một số công ty công bố kết quả ấn tượng. Theo Công ty SCJ TV Shopping, từ tháng 7.2011 đến nay, tốc độ tăng trưởng doanh thu của doanh nghiệp này là khoảng 20%/tháng. Ông Trần Hồng Việt, Tổng Giám đốc Saigontourist, đối tác của SCJ, cho biết Việt Nam hiện có tới trên 65% ở độ tuổi dưới 35, rất nhạy bén với việc tiếp cận với những phong cách hiện đại. Do đó ông kỳ vọng mô hình này sẽ phát triển mạnh hơn trong thời gian tới.

Tuy nhiên, gần đây đã nảy sinh khá nhiều rắc rối đối với mô hình này tại Việt Nam. Công ty Việt Home Shopping đã bị xử lý vì cung cấp hàng kém chất lượng cho khách hàng. Nhiều công ty bán hàng với giá cao gấp nhiều lần so với giá bán thực tế. Ngoài ra, nhiều đoạn tự quảng cáo đã nói quá về sản phẩm để dụ dỗ khách hàng. Đó là lý do khiến khách hàng mất niềm tin vào kênh bán hàng mới này.

Bà Đinh Thị Mỹ Loan, Tổng Thư ký Hiệp hội Bán lẻ Việt Nam cho biết: “Một số doanh nghiệp đã bán những mặt hàng kém chất lượng. Đây là điều tối kỵ bởi một khi lòng tin bị đánh mất, doanh nghiệp sẽ khó mà lấy lại được uy tín”.Một nghiên cứu của Công ty Nghiên cứu Thị trường FTA về việc mua sắm quần áo và các sản phẩm làm đẹp của nhóm người tiêu dùng trong độ tuổi từ 20-29 cho thấy, chỉ có 2% số người chọn home shopping, trong khi đó 40% số người chọn cửa hàng tiện lợi, 15% số người sẽ tiếp tục mua hàng ở chợ và 11% ở các trung tâm thương mại. Các chuyên gia về thương mại điện tử cho rằng, home shopping có triển vọng phát triển tốt tại Việt Nam với tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng 30%/năm. Tuy nhiên, để bước chân vào kênh bán lẻ hấp dẫn này, doanh nghiệp cần biết điểm mấu chốt là lấy được lòng tin của khách hàng nếu không muốn mình bị loại trong cuộc sàng lọc được dự báo sẽ sớm diễn ra

theo NCĐT

Tư vấn Quản trị - Tiếp thị - Thương hiệu

Nhà tài trợ

 
TOP