Marketing online:

Tiêu điểm

Bài mới nhất

Hiển thị các bài đăng có nhãn Brand | Event. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Brand | Event. Hiển thị tất cả bài đăng

5 sai lầm lớn đẩy Nokia sát vực thẳm

Đăng bởi: Quý Hải | Nhà tư vấn on 15 thg 6, 2012 | 6/15/2012

Nokia đang đón một tương lai ảm đạm, trừ khi họ thành công với dòng điện thoại Lumia
Nokia đang đón một tương lai ảm đạm, trừ khi
họ thành công với dòng điện thoại Lumia.
[Marketing4u - Kinh Nghiệm] Nhiều người cho rằng Nokia đã dại dột khi trao quyền vào tay Stephen Elop và khiến họ đánh mất ngôi vương, nhưng thực ra, công ty Phần Lan đã gặp nhiều vấn đề từ trước khi CEO này tới đây.
Nếu Nokia phá sản và thất bại, không ai có thể đổ lỗi cho Stephen Elop. Ngai vàng của Nokia bắt đầu lung lay từ khá lâu, có chăng chỉ là Elop đã góp phần đẩy nó đổ xuống nhanh hơn.

Họ trải qua một năm thua lỗ nặng nề, bán thương hiệu điện thoại hạng sang Vertu với giá "rẻ mạt" 250 triệu USD, chuẩn bị sa thải 10.000 nhân viên (khoảng 10% nhân lực của hãng) và đóng cửa hàng loạt nhà máy trên khắp toàn cầu trong năm 2013.

Dù Nokia đang đến hồi kết, giới phân tích cho rằng Elop vẫn có cơ hội để vực lại công ty này bằng cách nhìn nhận và rút kinh nghiệm từ những "mầm mống thất bại" trước đó. Trang công nghệ CNet đã liệt kê lại những nguyên nhân này:

Nokia không chịu sản xuất điện thoại gập

Một trong những sai lầm đầu tiên và lớn nhất của Nokia là không bắt kịp xu hướng điện thoại vỏ sò, từng làm mưa làm gió ở Mỹ và nhiều thị trường khác đầu thập kỷ trước.

Trước khi trào lưu đó xuất hiện, Nokia có vị trí rất cao tại Mỹ. Người ta có cảm giác ai ai cũng sở hữu một điện thoại dạng thanh của hãng Phần Lan. Nhưng các sản phẩm thời trang của đối thủ dần đẩy người dùng sang xu hướng vỏ gập. Đáng nhớ nhất là Motorola RAZR. Thành công của nó thể hiện rõ qua việc nó ăn dần thị phần của Nokia.

Nokia phản hồi bằng việc cho ra lò nhiều hơn nữa... điện thoại dạng thanh. Vị trí thống trị (có thời chiếm tới 2/3 thị phần) giú hãng bán được những model giống hệt nhau ra nhiều nước mà vẫn thu về lợi nhuận lớn thay vì phải vất vả tùy biến chúng cho phù hợp từng nhóm người dùng. Việc không sản xuất điện thoại vỏ gập không làm ảnh hưởng đến ngai vàng của, nhưng Nokia phải trả giá bằng việc đánh mất thị trường Mỹ và báo hiệu cho sự đi xuống về sau.

Motorola RAZR và xu hướng máy gập là dấu hiệu đầu tiên về sự đi xuống của Nokia
Motorola RAZR và xu hướng máy gập là dấu hiệu đầu tiên về sự đi xuống của Nokia.

Sau sai lầm, Nokia tảng lờ thị trường Mỹ

Việc không thể (hoặc không muốn) cho ra đời điện thoại tùy biến phù hợp với thị trường Mỹ khiến Nokia khó hợp tác với các hãng viễn thông. Họ "một mình trên xa lộ" tiến vào Mỹ bằng cách mở cửa hàng riêng tại các thành phố lớn và bán trực tiếp thiết bị cho người dùng thay vì thông qua nhà mạng. Nhưng do không được trợ giá, giá bán sản phẩm cao ngất nên chỉ những người thực sự trung thành mới sẵn sàng mua.

Trong khi đó, với vị trí khiêm tốn hơn, Samsung, LG và Motorola rất sẵn lòng đàm phán để mang đến các gói sản phẩm - dịch vụ phong phú cho người dùng. Nokia dần bị cô lập.

Nokia không nhận ra mối đe dọa từ Apple

Trong khi người ta đã quá quen với các nền tảng Windows Mobile, Palm OS hay Nokia Symbian. iPhone bất ngờ xuất hiện, làm rúng động thị trường và thay đổi quan niệm của mọi người về điện thoại thông minh. Còn Nokia thì vẫn mải mê trên đỉnh cao với thị phần bỏ xa đối thủ nên không nhận ra nguy cơ sắp đến.

Họ chủ quan một phần vì mức giá 500 USD của iPhone cách đây nửa thập kỷ là khá đắt, khiến nó được xếp vào phân khúc hạng sang. Nhưng sau khi Apple thỏa thuận xong với AT&T để hạ giá xuống 200 USD, nó lập tức thành sản phẩm đại trà và đủ mạnh để đe dọa bất cứ công ty điện thoại nào. Nó còn có một vũ khí là App Store, nơi "trói chân" khách hàng trong thế giới ứng dụng chỉ hoạt động duy nhất trên nền iOS. Vị trí của Nokia bắt đầu bị xói mòn.

Nokia dựa vào Symbian quá lâu

Trước đây, người sử dụng chấp nhận Symbian vì nó không thua kém các nền tảng khác. Nhưng iPhone ra đời, Symbian lập tức thành một sản phẩm già cỗi, không năng động. Khi Nokia chưa kịp trở tay, họ tiếp tục bị giáng một đòn mạnh nữa là sự nổi lên của Google Android.

Android mang đến một hệ điều hành hiện đại, đủ sức để cạnh tranh với iPhone và lập tức, một loạt hãng sản xuất đi theo. Motorola đang loay hoay tìm sự sáng tạo thời kỳ "hậu RAZR" nên toàn tâm toàn ý cho Android. HTC nhờ Android đã nổi lên thành một thương hiệu lớn trong làng điện thoại. Samsung và LG gia nhập chậm hơn nhưng cũng gặt hái thành công. Món quà cho Samsung khi chọn Android chính là danh hiệu hãng smartphone số một thế giới hiện nay.

Nokia, một lần nữa "chủ quan khinh địch", vẫn chìm đắm với Symbian cho tới khi Stephen Elop xuất hiện, họ mới quyết định không coi Symbian là hệ điều hành chủ đạo trong sản phẩm của họ nữa.

Nokia chọn sai nền tảng tiếp theo

Khi đã không coi là nền tảng chính, họ vẫn tiếp tục dùng dằng với Symbian sau đó vì nỗ lực tạo ra một hệ điều hành smartphone hoàn toàn mới của họ thực sự là một thảm họa. Ai còn nhớ Maemo? Nokia hẳn muốn người ta đừng nhắc đến nữa.

Maemo ra đời với sứ mệnh trở thành nền tảng thế hệ mới cho điện thoại Nokia. Intel, cũng muốn tham gia thị trường smartphone, đã phát triển một nền tảng riêng có tên Moblin. Năm 2010, hai công ty hợp nhất sản phẩm của họ thành MeeGo - một sự hợp tác không mang lại lợi ích gì mà chỉ làm chậm hơn lộ trình của Nokia. Meego hiện hoạt động trên N9 - một chiếc điện thoại đẹp mắt, sang trọng, nhưng hệ điều hành thì đã chết vì hãng Phần Lan không còn mở rộng nó nữa.

Nokia vẫn còn một cơ hội nữa là điện thoại Lumia.
Nokia vẫn còn một cơ hội nữa là điện thoại Lumia.
Họ đã có một quyết định khác: bắt tay với Microsoft sản xuất điện thoại Windows Phone. Elop từng ví Nokia như người đàn ông đứng trên con thuyền bốc cháy giữa sông và họ buộc phải vật lộn với dòng nước lạnh thay vì đứng chờ chết cháy trên thuyền. Và giới phân tích chỉ hy vọng, với dòng Lumia, Nokia sẽ đủ sức, đủ niềm tin và đủ sáng suốt để bơi vào được tới bờ.

Theo Châu An - Vnexpress

5 cách tận dụng fan thương hiệu

Đăng bởi: Quý Hải | Nhà tư vấn on 17 thg 5, 2012 | 5/17/2012

5 cách tận dụng fan thương hiệu
[Marketing4u.vn] - Khi tiếp thị thương hiệu chuyển từ cơ chế thúc đấy sang cơ chế lôi kéo – và kinh nghiệm thực tế bắt đầu thay thế những kiểu marketing truyền thống thì giá trị và sự thức đẩy của những “super - fan” của thương hiệu là hết sức quan trọng.

Đầu tiên bạn cần xác định “super fan” là ai và bạn có những fan này không.
Trên thực thế một “super fan” không đơn giản là người “theo” thương hiệu của bạn, sử dụng sản phẩm của thương hiệu bạn mà còn thích tìm hiểu và đồng hành cùng những hoạt động của thương hiệu bạn trong thời gian dài. Chúng ta có thể lấy fan của Papple làm một ví dụ. Những fan hâm mộ này không chỉ đơn giản là ấn vào nút “Like” trên Facebook hay tham gia nhiệt tình vào forum của Apple hàng tháng. Họ có nhu cầu tìm hiểu, khám phá, trải nghiệm mọi sản phẩm của Apple bằng cách này hay cách khác mà hông nhất thiết phải mua sản phẩm. Họ là những người sẵn sàng lái xe hàng vài cây số, xếp hàng vài giờ chỉ để được trải nghiệm một công cụ mới. Một dấu hiệu dễ nhận ra “super fan” nhất là những người tạo ra câu chuyện riêng của họ về thương hiệu của bạn thông qua blog, facebook, hay bất kỳ công cụ gì khác và sẵn sàng chia sẽ chúng với bạn bè.
Khi đã nhận ra “super fan” của thương hiệu thì công việc còn lại là làm thế nào để thúc đẩy những fan này?
Tạo một sự kiện mang tính lan tỏa:
Đây có thể là một sự kiện thực sự hay chỉ đơn giản là một đoạn video được upload lên mạng. Tuy nhiên, sự kiện này phải đáp ứng được một điều kiện đó là làm cho khách hàng tò mò và đặt ra nhiều câu hỏi hay giả định về nó. Giống như một đoạn video hoạt hình, một đoạn video được GoBZRK đưa lên mạng như là một sản phẩm của một “siêu nhà thờ”  và lập tức được dân cư mạng lan truyền với tốc độ chóng mặt. Họ tò mò rằng liệu đây có phải là một tổ chức có thật nào đó không ?!

Chuyển những người tham gia vào một vùng riêng biệt:
Khi một nhóm hay một cộng đồng nhỏ bắt đầu nói về thương hiệu của bạn hãy tập trung họ lại và tôn vinh sự quan tâm của họ làm cho họ cảm thấy đặc biệt. Không ai thích đến một CLB mà ai cũng có thể đến và không ai muốn thúc đẩy cho một thương hiệu chỉ biết bán hàng cho họ.

Tưởng thưởng
Tưởng thưởng thế nào đó là quyền quyết định của bạn. Tuy nhiên nó phải được mọi người thích thú và người được thưởng phải thực sự cảm nhận được sự khác biệt của họ. Chẳng hạn, một fan hâm mộ nổi bật sẽ được một sản phẩm sắp phát hành mà chỉ họ mới có, hoặc một bộ sản phẩm được làm riêng và mang tính cá nhân của người đó.  

Phí thành viên:
Nhiều người ngại đóng phí thành viên khi tham gia một câu lạc bộ hay một nhóm người hâm  mộ. Nhưng với những “super fan” thì đây là cách họ khẳng định mình. Họ đóng phí tham gia và ngược lại họ nhận được những tưởng thưởng về mặt vật chất lẫn tinh thần. Những phần quà không cần phải thực sự sang trọng hay mắc tiền, cái chính những fan này tìm kiếm là sự công nhận mối quan hệ giữa họ và thương hiệu của bạn.

Làm cho nội dung trở thành vật báu của bạn:
Hãy để fan tham gia vào những sự kiện quan trọng như ra mắt sản phẩm, hay dùng thử sản phẩm mới…và hãy lắng nghe ý kiến của họ và hãy làm họ cảm nhận được ý kiến của họ quan trọng và góp phần làm mới hay thay đổi cái hiện có. Như vậy, fan sẽ không tiếc lời khi kể về thương hiệu của bạn cũng như kể về chính những thành công của họ.

Những super – fan không chỉ là khách hàng của bạn mà còn là người “dẫn mối” để nhiều người khác cùng sử dụng sản phẩm của bạn. Những fan này biến thương hiệu của bạn trở thành thật, sống động, và nhân bản. Vì vậy, phát hiện, giữ gìn và phát triển những fan này là hết sức quan trọng đối với mọi thương hiệu.

Bí mật 10 thương hiệu đáng tin cậy nhất thế giới

Đăng bởi: Quý Hải | Nhà tư vấn on 29 thg 3, 2012 | 3/29/2012

[Marketing4u.vn] - Amazon, Coca, Ford, Nike, Starburg...là những thương hiệu nổi tiếng và tồn tại lâu đời. Vì sao họ có thể làm được như vậy? Liệu một doanh nghiệp hay thương hiệu mới có thể đạt được một thành quả như thế không?!

Để phân tích “công nghệ” tạo nên một thương hiệu, không có cách nào tốt bằng việc tìm hiểu sâu hơn vào những công ty mà mọi người đều biết và tin tưởng.

Để làm được điều này, tờ Entrepreneur, đồng thực hiện với tổ chức The Values Institute tạiDGWB, Santa Ana, California, trên tinh thần tập trung vào mối liên hệ giữa các nhãn hàng, đã tiến hành một khảo sát với người tiêu dùng để tìm ra nguyên nhân tại sao những thương hiệu này vẫn giữ vững ở vị trí hàng đầu.


Kết quả thấy được thật rõ ràng: mặc dù trong ngành công nghiệp nói chung, các công ty này đều không chiếm nhiều thị phần hay bán được nhiều hàng nhất, những thương hiệu tin cậy trên thế giới ngày nay đều tạo được mối quan hệ sâu sắc với khách hàng thông qua kinh nghiệm mua bán, cái tạo ra sự phản hồi theo cảm tính tích cực từ những khách hàng này.
“Chúng tôi thấy được tầm quan trọng của việc xây dựng thương hiệu thông qua mối liện hệ với cảm xúc của khách hàng bởi nó thật sự rất hiệu quả”, phát biểu từ nhà tư vấn thương hiệu Jim Stengel, nhà xây dựng chiến lược quảng cáo toàn câu của Procter & Gamble và là tác giả cuốn sách Quyền Lực Tuyệt Đối Lên Ngôi và Lợi Nhuận tại Các Tập Đoàn Hùng Mạnh trên Thế Giới. “Khi bạn làm được điều đó, bạn sẽ có công việc kinh doanh tốt hơn, sự phát triển mạnh mẽ hơn và lợi nhuận tạo ra to lớn hơn.”
“Khi chúng tôi quan sát các nhãn hàng (tại P&G), những cái mà đã tạo được mối liên hệ cảm xúc với người tiêu dùng nhiều hơn so với các đối thủ”, Stengel nói thêm, “chúng tôi thấy thị phần các nhãn hàng đó trên thị trường cao hơn rất nhiều. Và sự phát triển của các nhãn hàng này là vượt trội.”
Dưới đây là các bí quyết mà những thương hiệu được tin cậy hàng đầu nước Mỹ áp dụng với người tiêu dùng và những cách này rất có thể sẽ giúp ích cho việc kinh doanh của chính bạn.
1.Amazon: Phục vụ tới từng cá nhân


Nhà bán lẻ trực tuyến cung cấp “mọi thứ” này giành được sự bầu chọn cao nhất trong việc xây dựng không chỉ niềm tin với các nhãn hàng nói chung mà còn ở giá trị niểm tin của từng cá nhân khách hàng nói riêng.

Điều này không gây ngạc nhiên cho Brad VanAuken, nhà chiến lược thương hiệu, văn phòng tư vấn The Blake Project. Ông cho rằng tầm ảnh hưởng, chức năng kinh doanh và kinh nghiệm bán hàng của Amazon, tất cả những thứ khác biệt này đã tạo nên một thương hiệu vô cùng mạnh mẽ mà người tiêu dùng tin tưởng.

“Với hàng triệu sản phẩm, phục vụ 24/7, công cụ tìm kiếm chuyên nghiệp cùng công nghệ tiên tiến và rất nhiều nguồn thông tin chuyên sâu về sản phẩm, Amazon tạo ra một trải nghiệm mua bán thật tuyệt vời”, VanAuken nói.

Ông nói thêm rằng thương hiệu này, cùng với giá cả và chi phí vận chuyển thấp, được nhìn nhận như là một lời chào hàng trong khi yêu cầu mua hàng chỉ bằng một cú click chuột và các lựa chọn vận chuyển lại nhanh chóng khiến mua tiết kiệm rất nhiều thời gian. Nhờ các đối tác và các kênh mua bán khác như Partner Count, Amazon cũng khiến người tiêu dùng tin tưởng rằng nó có mọi sản phẩm mà họ tìm kiếm.

Trong khi một lượng lớn các lời chào hàng dàn trải có thể coi như là không riêng tư, VanAuken cho rằng Amazon đã làm một việc đúng đắn nhằm nuổi dưỡng quan hệ với khách hàng bằng cách giúp họ quyết định thông qua hệ thống tư vấn và khuyến nghị. Người tiêu dùng cũng có nhiều lựa chọn hơn khi đánh giá sản phẩm từ các lần mua bán trước, điểm bài viết hay bình chọn xếp hạng, danh sách ưa thích hay danh sách Listmania.

2.Coca-Cola: Bán cả niềm hạnh phúc


“Ánh nắng mát lạnh”, “Khởi nguồn của sự tươi mới” “Không thử sao biết”… Từ khi bắt đầu khởi nghiệp cho tới nay, cam kết của nhà sản xuất đồ uống lớn nhất thế giới này là mang tới sự vui thích cho khách hàng. “Mọi thứ mà họ làm đều được truyền cảm hứng từ ý tưởng Làm thế nào chúng ta xúc tiến, phát triển và tạo ra niềm hạnh phúc?”, tác giả Stengel nói.

Coca – Cola nỗ lực gắn thông điệp này trong từng mối liên hệ với khách hàng, từ Facebook tới các máy bán hàng tự động, điều mà cho phép khách hàng tự do thưởng thức hương vị đồ uống theo những cách riêng. “Họ lấy ý tưởng về sự ham thích tự nhiên, thanh thoát không gò bó và gắn chúng vào tất cả mọi thứ”, Stengel phát biểu.

Khi nói về sự chuyển mình của nhãn hàng này từ cái tên New Coke vào những năm 80, Stengel cho biết thêm công ty này vẫn tập trung vào khẩu hiệu mang tới niềm hạnh phúc với sự nhận biết thương hiệu mạnh mẽ dựa trên tuổi thọ và tính kế thừa. “Họ có sự tôn trọng sâu sắc với quá khứ và các bậc tiền bối”, ông nói, “Họ không bao giờ quên lí do và nơi mà họ đã bắt đầu, và điều này có ý nghĩa rất to lớn với khách hàng của họ.”

3.FedEx: Sống với sự cam kết
Với đam mê không ngừng cho những nhiệm vụ trong tầm tay, FedEx đã tạo ra một sự nhận biết thương hiệu mạnh mè. Không ngạc nhiên khi nói rằng, công ty này giành được sự bầu chọn cao nhất cho khả năng đạt được những gì nó cam kết và cho sự hiệu quả trong việc kinh doanh.

Để cung cấp một dịch vụ đáng tin cậy, nhãn hàng này đã đem lại niềm tin cho khách hàng thông qua những sáng kiến như chiến dịch “Chúng tôi hiểu”, nói theo Kari Blanchard, giám đốc chiến lược Future Brand, văn phòng New York. “ Họ nâng tầm thương hiệu bằng cách thừa nhận rằng mọi thứ không chỉ đơn giản là vận chuyển hàng hoá,”Blanchard nói. “Họ đánh giá đó còn là của cải, kế sinh nhai và cả tương lai của những khách hàng, và việc nhìn ra điều này trong những túi hàng vô tri có ý nghĩa rất to lớn với tất cả mọi người.”

Để mang thông điệp này đi xa hơn, FedEx cam kết với người tiêu dùng thông qua chương trình trao thưởng cá nhân và tương tác qua các kênh truyền thông xã hội. “Khi bạn giành được sự tin tưởng – thứ rất có ý nghĩa với việc kinh doanh nhưng không phải là thứ chính xác khiến bạn yêu một nhãn hàng nào đó—đấy là khi suy nghĩ của khách hàng là thứ cốt yếu nhất chứ không phải chỉ là một con số đơn thuần”, Blanchard nói.
4.Apple: Giữ mọi thứ luôn tuyệt (và vui vẻ)
Các công ty khác khiến dư luận và đám đông phải nín thở chờ đợi mỗi khi có sản phẩm mới ra đời ư? Vấn đề mấu chốt thực sự chính là bất cứ một sản phẩm nào được Apple tung ra, người dùng sẽ tin rằng đây là một sản phẩm thông minh và nó sẽ giúp họ nhiều hơn không chỉ trong công việc mà còn để giải trí. Thêm vào đó, họ thật sự thích thú với trải nghiệm mua bán các sản phẩm này.

 Trong khi các sản phẩm của Apple luôn là về sự sáng tạo và tính biểu đạt, thương hiệu này đã nâng tầm chỉ số cảm xúc khi cho ra đời các cửa hàng bán lẻ thúc đẩy tính hợp tác và tính minh bạch giữa khách hàng và những nhân viên bán hàng. “Họ thuê những nhân viên có sự đồng cảm, và họ không đánh giá việc bán hàng như là chỉ bán hàng,” Stengel cho biết. Ông gọi nỗ lực phát triển các cửa hàng này của Apple như là “sự nỗ lực bán lẻ tốt nhất trong lịch sử. Họ thực sự muốn khách hàng đến, được truyền cảm hứng, và thấy tự tin hơn về bản thân mình thông qua trải nghiệm mua bán trong cửa hàng.”

Apple sử dụng các cửa hàng bán lẻ để cho khách hàng nhìn thấy, chứ không phải đang nghe lại, triết lí kinh doanh của họ; điều đó thể hiện từ những chiếc bàn lớn, không gian rộng, trang trí tủ hàng đến những nhân viên lành nghề, những người được trang bị các công cụ tiên tiến giúp khách mua hàng thanh toán nhanh chóng mà không phải xếp hàng chờ lâu.

Vài điểm trừ nhỏ: Thương hiệu này đạt điểm thấp hơn trung bình ở hạng mục kết nối nhân viên cũng như hạng mục không vinh danh khách hàng thân thiết. Điều này có thể lí giải là do Apple chỉ tập trung vào chức năng chuyên môn chính mà thôi.

 “Steve Jobs chỉ nghĩ về những gì đúng đắn nhất cho thương hiệu và cho người tiêu dùng”, Stengel nói. “Điều này lí giải cho lí do vì sao họ vấn tiếp tục làm tốt công việc của mình, tạo ra những sản phẩm mới và bỏ xa các đối thủ.”

5.Target: Thiết kế những trải nghiệm


Rất dễ để quên mất rằng Target là một cửa hàng bán hạ giá. Với những chiến dịch quảng cáo đậm phong cách riêng cùng sự cộng tác với các nhà thiết kế hàng đầu, những người tạo ra các cơn sốt thời trang trên thị trường cùng số lượng thiết kế có hạn, Target luôn bị “hiểu nhầm” không phải là một thương hiệu buôn bán hàng loạt.

Target đã thực hiện được một trải nghiệm bán lẻ hiếm có khác thường, từ thiết kế cửa hàng cho tới lựa chọn các sản phẩm hay giá cả hàng hoá và cả dịch vụ khách hàng. "Target đã nỗ lực trong việc cung cấp dịch vụ mua hàng hết sức thú vị, song bạn vẫn tìm được sản phẩm chất lượng với giá cả rất phải chăng,” phát biểu từ nhà tư vấn thương hiệu Rob Frankel. “Là một phần quan trọng tạo nên tên tuổi nhãn hàng này, Target cố gắng tạo ra nguồn những nhân viên chuyên nghiệp với thái độ phục vụ nồng hậu, điều này tạo nên một tiếng vang rất lớn và họ không ngần ngại nắm lấy ngay cơ hội đó.”

Nhờ vào sự bài trí cửa hàng chuyên nghiệp và các mẫu thiết kế phù hợp, Target luôn được bình chọn là nơi đáng để đi mua sắm, bởi tại đây khách hàng tự tin rằng họ có thể tìm thấy những gì họ muốn, ngay cả khi họ đang ở trong một cửa hiệu khổng lồ. “Không phải điều này giúp khách hàng dễ chịu hơn, điều này khiến khách hàng thật sự thấy thích thú khi tới đây,” Frankel nói.

Dịch vụ khách hàng ở đây cũng rất thân thiện, từ cái cách mà “những lễ tân luôn dõi theo khách hàng và giúp họ chuyển sang một quầy thanh toán khác ít đông hơn”, cho tới việc nhận thức được rằng “khách hàng của Target luôn được coi như các ông hoàng.”

Frankel cho rằng công việc kinh doanh nào cũng nên cung cấp những trải nghiệm mua bán nồng hậu và ấm cúng như vậy, điều này giúp gây được niềm tin thương hiệu với khách hàng tốt hơn các đối thủ. “Không cần biết là bạn bán cái gì, nếu bạn không đưa được cho khách hàng lí do mà họ nên đến cửa hàng của bạn, thì họ sẽ chẳng bao giờ tự luận ra được cả, bởi chỉ mình giá cả thì không thể làm được điều đó,” ông nói.

6. Ford: Trước sau như một

 
Trong một kỉ nguyên mà thứ duy nhất thay đổi lại mang tên gọi “sự chắc chắn”, thương hiệu Ford cùng tính kiên định của họ được thành lập như một tín hiệu của sự tin cậy.

VanAuken của The Blake Project chỉ ra rằng từ tên gọi 1 âm tiết đơn giản tới logo chuẩn mẫu và tầm quan trọng của cha đẻ Henry Ford, nhân dạng thương hiệu của công ty này vẫn đứng vững trước thử thách của thời gian.

“Mọi người biết và ngưỡng mộ câu chuyện của Ford”, ông cho biết, “trong 3 nhà sản xuất ô tô ởDetroit, Ford có một thương hiệu, chiến lược kinh doanh và sự chấp hành ổn định nhất.”

Ford cũng lắng nghe và hành động dựa trên nhu cầu của khách hàng, VanAuken cho biết thêm, và lưu ý rằng chính CEO Alan Mulally là người tương tác trực tiếp với khách hàng thông qua các kênh truyền thông xã hội.

Những động thái này đã tạo ra một sự liên kết vững chắc: Thương hiệu được xếp hạng ở vị trí cao cho tính ổn định và tính tin cậy, và người tiêu dùng bầu chọn cao nhất cho Ford vì cung cách hành xử trách nhiệm và quan tâm tới lợi ích của nhân viên và khách hàng.

VanAuken nhấn mạnh rằng tính kiên định là cần thiết cho bất cứ ngành nghề kinh doanh nào. “Việc thay đổi logo, khẩu hiệu hay thông điệp sẽ khiến không một thứ gì trong thương hiệu của bạn tồn tại trong ý nghĩ của khách hàng,” ông nói. “Một khi bạn đã phát triển được thương hiệu của mình theo một giá trị độc nhất vô nhị, hãy lặp lại điều đó lần nữa và lần nữa.”

7. Nike: “Tôi làm được”

 
Trên website, Nike tuyên bố sứ mệnh của họ là “mang cảm hứng và đổi mới tới mọi vận động viên trên thế giới”, thêm vào đó, “Nếu bạn có một cơ thể, thì bạn chính là một vận động viên.”

Đây là một thông điệp thể hiện tham vọng mạnh mẽ và điều này đã kết nối những phụ kiện thể thao của công ty tới người tiêu dùng toàn cầu, nói theo nhà tư vấn thương hiệu Kevin Lane Keller, giáo sư ngành marketing, đại học Dartmouth. “Nike bao giờ cũng cực kỳ tập trung vào nhu cầu của khách hàng, với mạng lưới thông tin rộng rãi khiến thương hiêu này có thể kết nối với các vận động viên cũng như tất cả mọi người,” Keller nói. “Nike trao quyền cho bạn được hành động để trở thành chính bản thân bạn, như một lời mời từ nhãn hàng này “Cứ làm thôi” (Just do it).”

Nike vẫn duy trì việc phát triển sản phẩm, bao gồm giới thiệu các công nghệ mới như nệm Nike Air, sợi tổng hợp Dri-Fit, đây là một trong những điểm mạnh nhất, theo Keller, người mà nói rằng khách hàng có xu hướng thích sự cách tân theo ý kiến từ giới chuyên môn.

“Khi bạn cách tân, khách hàng sẽ tin tưởng bạn hơn, bởi họ nghĩ rằng bạn thực sự biết bạn đang làm gì”, ông nói. “Sản phẩm đầu tiên của Nike chỉ là bước khởi đầu cho một hành trình dài, mà ở đó họ hoàn thành tát cả mọi thứ liên quan tới mọi môn thể thao trên mọi địa điểm toàn thế giới.”

Keller nói rằng Nike đạt được sự tin cậy từ khách hàng bởi nhà đồng sáng lập Phil Knight vẫn gắn mình với việc kinh doanh. Ông cho biết “Khi nhà sáng lập vẫn còn ở đó, mọi người tôn trọng thương hiệu theo một cách rất khác, bởi lời nói và tư cách của con người này sẽ giúp công ty gần gũi với người tiêu dùng hơn.”

8. Starbucks: Vun đắp sự kết nối

 
Sau khi hứng chịu sự sụt giá bất thình lình vào vài năm trước, nhà bán lẻ cà phê dẫn đầu thế giới này đã vực dậy công việc kinh doanh và thương hiệu của mình bằng cách quay trở lại cam kết ban đầu là mang mọi người tới gần nhau hơn. “Starbucks hiểu rất rõ lí do vì sao họ ở đây, và điều này đã giúp tạo ra sự kết nối,” tác giả Stengel nói.

Từ Wi-fi miễn phí tới phòng nghe nhạc trong cửa hiệu, cho tới những cái bàn lớn cùng phòng cho hội thảo và các buổi gặp gỡ, cửa hiệu của công ty này được thiết kế để giúp các khách hàng tương tác với nhau dễ dàng. “Vào bất kì một cửa hàng Starbucks nào cũng sẽ thấy công việc kinh doanh diễn ra và người người chia sẻ các giá trị, công ty hiểu rất rõ điều đó,” Stengel nói. “Mọi thứ trong đây đều là về sự liên kết, khám phá, truyền cảm hứng và sáng tạo.”

Khởi đầu thành công là động lực thúc đẩy những cách tân của Starbucks. “Họ tạo ra những điều độc đáo với thương hiệu của họ và trở nên rất thành công, và vẫn không một ai có thể giống như họ,” Stengel nói.

Chìa khóa chính, ông nói, là thấu hiểu các nguyên tắc kinh doanh và chiến lược của đối thủ, và đề ra cách nào để nâng ưu điểm của mình lên cao nhất. “Nếu bạn là một thương gia mới thâm nhập vào thị trường, có thể bạn không cải tổ được một ngành công nghiệp, nhưng nếu bạn có thể đổi hướng phát triển của nó, thì có nghĩa rằng bạn đã thành công.”

9. Southwest Airlines: Đáp ứng mọi đòi hỏi

 
Hãng vận chuyển giá rẻ này luôn kiên định với lộ trình của chính mình trong ngành công nghiệp hàng không, tạo ra những phẩm chất khác biệt thông qua mọi thứ, từ cách mời khách vào ghế ngồi cho tới những tiếp viên, những người bảo đảm sự an toàn của bạn trên chuyến bay.

"Southwest là một thương hiệu độc lập mà nhanh chóng phá vỡ những quy phạm trong ngành công nghiệp hàng không,” phát biểu từ Tim Calkins, giáo sư ngành marketing, Khoa quản trị kinh doanh, Đại học Kellogg Northwestern. “Từ cách sắp xếp chỗ ngồi cho thấy một thực tế rằng công ty này không lên danh sách theo hệ thống trực tuyến, nó luôn tự hào vì làm theo cách rất riêng.”

Calkins cho rằng phần lớn sự thành công của thương hiệu Southwest đến từ công việc kinh doanh và văn hóa công ty, những thứ mang đặc trưng và chúng hỗ trợ rất nhiều cho chức năng kinh doanh chính của công ty này.

"Southwest có một nền văn hóa công ty rất vui vẻ, đầy năng lượng và là độc nhất vô nhị trong ngành công nghiệp hàng không, nhưng cốt lõi nhất họ là bậc thầy kinh doanh khi mang tới cho khách hàng giá cả cực kì phải chăng mà vẫn rất hiệu quả,” ông nói.

Mặc dù hãng hàng không này nhận được tỉ lệ bầu chọn thấp trong hạng mục không chia sẻ thông tin về các quyết định của công ty, nhưng những thước đo bảo vệ này có thể là lí do khiến nó vẫn tiếp tục phát triển thịnh vượng. Vài hãng hàng không lớn khác đã cố đi theo “phong cách Southwest” với giá cả thấp (như Delta’s Song và United’s Ted), nhưng không ai trong số họ làm được.

"Bạn có thể thấy những gì Southwest làm, họ chỉ bay với một loại máy bay, họ không mặc cả giá và họ có đội ngũ nhân viên thân thiện—và bạn nghĩ rằng ai đó sẽ sớm vượt mặt họ thôi, nhưng vẫn không một ai làm được cả,” Calkins nói. “Điều kì diệu của Southwest là ngay cả khi họ được cấu thành từ những yếu tố “lạ đời” nhất, tất cả những sự khác biệt này lại phối hợp được với nhau để tạo ra một cách phục vụ khách hàng độc đáo chỉ của riêng họ.”

10. Nordstrom: Khách hàng là Thượng Đế

 
Khi dịch vụ khách hàng tuyệt vời của bạn được lưu truyền như là một “thần thoại”, điều đó có nghĩa là bạn đang đi rất đúng hướng. Đó như là một con dấu xác thực của thương hiệu cửa hàng bách hoá này, nơi mà có lời đồn rằng họ nhận trả lại từ một khách hàng một kiện đồ trang sức, ngay cả khi cửa hàng chưa bao giờ bán đồ trang sức!

"Nordstrom là tất cả mọi thứ về khả năng cung cấp những dịch vụ khách hàng đặc biệt, cái mà tạo nên một trải nghiệm dịch vụ hiếm có và rất điển hình”, Calkins của Northwestern nói.

Nordstrom được bình chọn rất cao cho hạng mục quan tâm tới khách hàng, cũng như chất lượng của sản phẩm trên tổng số gần 230 cửa hàng của nó. Dịch vụ hấp dẫn, bao gồm chính sách trả lại hàng vô điều kiện, thư điện tử kèm ảnh kĩ thuật số về sản phẩm mới cho khách hàng thân thiết và thiếp cảm ơn sau khi mua hàng, khiến nhà bán lẻ này không cần quá lo lắng về giá cả cạnh tranh, do đó luôn thu được lợi nhuận cao hơn đối thủ.

“Họ không giả bộ là họ có giá thấp nhất, và họ cũng chẳng cần phải làm như thế,” Calkins nói. “Khi mọi người tới đây họ đều biết là họ phải trả thêm một chút nữa, nhưng dịch vụ quá tốt nên điều đó cũng xứng đáng.”

Một số ít khách hàng chỉ trích Nordstrom vì không cung cấp cho khách hàng nhiều thông tin về các chính sách của công ty, nhưng Calkins cho rằng khi xây dựng một nhân dạng thương hiệu, lựa chọn của bạn vẫn đúng đắn khi chi tập trung vào một vài yếu tố cơ bản, miễn là bạn làm nó tốt nhất là được.

“Điều khiến thương hiệu này được đóng dấu chính là từ trải nghiệm dịch vụ chứ không phải từ cách tiếp cận,” anh nói. “Nordstrom chưa bao giờ tập trung vào công ty hay nhân viên của mình, tất cả năng lượng tích cực đều dồn cho khách hàng cả, và đó là bí mật dẫn tới thành công của họ.”

Phong Linh

Theo TTVN

Đầu tiên trên thị trường không quan trọng bằng đầu tiên trong tâm trí khách hàng

Đăng bởi: Quý Hải | Nhà tư vấn on 20 thg 3, 2012 | 3/20/2012

[Marketing4u.vn] Ngành marketing ở nước ta vẫn còn khá non trẻ và cơ hội luôn dành cho những ai biết vận dụng sáng tạo đưa những đặc tính chung của sản phẩm thành thuộc tính thương hiệu của chúng ta, và chúng ta dù không phải là đầu tiên trên thị trường nhưng sẽ trở thành đầu tiên trong tâm trí khách hàng.

Trong mẫu quảng cáo truyền hình gần đây của thương hiệu sữa TH, hãng này đã nhấn mạnh rằng “sữa sạch” của mình bắt nguồn từ những đồng cỏ xanh và công nghệ hiện đại.
Thông điệp quảng cáo này đã châm ngòi một làn sóng phản đối từ các hãng sữa khác và ngạc nhiên hơn cả là từ chính Hiệp hội sữa Việt Nam. Họ lý luận việc TH milk tuyên bố sữa của họ sạch sẽ khiến người tiêu dùng cho rằng sữa của các hãng khác không sạch.
Thực tế, đây là một cáo buộc không có căn cứ và nóng vội.
Rõ ràng, không có bất cứ dấu hiệu vi phạm nào trong mẫu quảng cáo này. TH milk cũng  không có lời lẽ ám chỉ về đối thủ cạnh tranh của mình.
Tuy nhiên, những vấn đề đó không phải là mối quan tâm hàng đầu của những người làm marketing. Họ quan tâm nhiều hơn đến lý do thành công của chiến dịch quảng cáo này.
Điều mà TH milk đang thực hiện gọi là chiến lược quảng cáo giành lợi thế tiên phong. Theo đó, họ tuyên bố một đặc tính thông thường của sản phẩm sữa ( sữa sạch). Tất nhiên, mọi công ty sản xuất sữa đều có khả năng và cũng bắt buộc phải đáp ứng tiêu chuẩn này. Vấn đề ở chỗ không ai trong số họ nhận thức được việc cần phải tuyên bố điều này trên truyền thông đại chúng.
TH là công ty ĐẦU TIÊN tuyên bố và họ đã đi trước một bước so với các đối thủ gạo gội khi thực hiện điều này.
Chiến lược xây dựng thương hiệu kiểu này đã xuất hiện từ lâu trong marketing. Một thương hiệu cà phê nổi tiếng của Mỹ có slogan là: “Folger: cà phê trồng trên cao nguyên”. Thông điệp này không có gì mới lạ. Ai cũng biết tất cả các loại cà phê đều trồng trên cao nguyên. VarpoNet – một thương hiệu phát triển công  nghệ thông tin cũng có tuyên  ngôn “cung cấp dịch vụ truy cập Internet không dây”. Rõ ràng, đây là một chức năng cơ bản mà một công ty công nghệ thông tin có thể cung cấp.
Chỉ có điều trước Folger và VarpoNet, không có thương hiệu nào tuyên bố trên truyền thông đại chúng về điều này cả.
Vậy lợi ích ở đây là gì? Tất nhiên, còn có rất nhiều lợi ích đáng mơ ước khi thương hiệu biết sử dụng vũ khí đơn giản nhưng hiệu quả này.
Sạch là một đặc tính chung của các nhãn sữa. Tuy nhiên, khi TH milk là người đầu tiên danh xưng rằng họ là thương hiệu sữa sạch, đặc tính này đã trở thành một đặc điểm riêng của  TH trong tâm trí người tiêu dùng mặc dù hãng sữa này mới gia nhập thị trường không lâu. Trong một lớp học, khi một em học sinh xung phong đứng lên phát biểu, ý kiến đó mặc nhiên là được coi của riêng em cho dù trong lớp có thể có nhiều em khác cũng biết được điều này.
Đặc điểm này mang lại cho TH một liên tưởng giá trị (sạch) khi khách hàng nghĩ về thương hiệu này. Điều này hoàn toàn đúng với một trong 22  nguyên tắc  bất biến trong xây dựng thương hiệu – Đầu tiên trong tâm trí khách hàng tốt hơn nhiều so với xuất hiện đầu tiên trên thị trường (22 nguyên tắc bất biến trong marketing, Al Ries & Jack Trout)
Cuối cùng nhưng cũng không kém phần quan trọng, thương hiệu TH milk bỗng nhiên được giới truyền thông nói đến rất nhiều mà không mất một đồng quảng cáo nào. Trong thời buổi khủng hoảng, đó là một phần thưởng đáng giá cho họ.
Những câu chuyện thương hiệu như thế này ở Việt Nam là rất phổ biến bởi ngành marketing của chúng ta vẫn còn khá non trẻ và cơ hội luôn chờ đón những thương hiệu biết vận dụng sáng tạo những quy luật đã được trải nghiệm từ rất lâu trên thế giới.
Nếu bạn là một người làm marketing, bạn nên bắt tay ngay vào tìm hiểu nghiên cứu, xem liệu đặc tính nào của thương hiệu có thể giúp bạn trở thành đầu tiên trong tâm trí khách hàng hay không. Bằng cách áp dụng chiến lược đơn giản này, bạn biết biến một thuộc tính chung thành thuộc tính thương hiệu của riêng bạn, đó sẽ là cơ hội tuyệt vời để trở nên khác biệt.
Trong cuộc sống cũng như xây dựng thương hiệu, cái gì đầu tiên cũng được nhớ lâu và sẽ theo cùng năm tháng. Ban có đồng ý vậy không?
(Nguyễn Đức Sơn - Brand Strategy Director – Richard Moore Associates)
(Thanh Phương -
Theo Branddance)

Tính khả thi của ý tưởng kinh doanh

Đăng bởi: Quý Hải | Nhà tư vấn on 17 thg 3, 2012 | 3/17/2012

[Marketing4u.vn] Khi có một ý tưởng hay về sản phẩm hay dịch vụ mới và muốn đưa ra ứng dụng, chủ doanh nghiệp cần xem xét tính khả thi của nó ở tất cả các khía cạnh. Có nhiều ý tưởng mới mẻ, hứa hẹn nhiều điều tốt đẹp nhưng lại bị thất bại ngay khi thử nghiệm trên thị trường. Ngược lại, cũng có những ý tưởng không mới mẻ nhưng vẫn có thể mang lại nhiều thành công. Cái chốt của vấn đề nằm ở tính khả thi của ý tưởng. Có thể xác định được tính khả thi của một ý tưởng bằng cách trả lời những câu hỏi sau:

Ý tưởng có giá trị xã hội không?

Một ý tưởng kinh doanh đúng nghĩa phải có giá trị. Ý tưởng phải đưa ra được những sản phẩm, dịch vụ có ích, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng, góp phần nâng cao chất lượng sống của họ. Nếu ý tưởng đưa ra chỉ nhằm mang lại lợi nhuận cho một cá nhân, phục vụ cho tổ chức nào đó thì ý tưởng đó chẳng có giá trị về mặt xã hội và sẽ nhanh chóng thất bại.

Ý tưởng có tính thuyết phục không?

Một ý tưởng chỉ có thể trở thành ý tưởng kinh doanh khả thi khi nó thuyết phục và hấp dẫn được nhà đầu tư để họ sẵn sàng bỏ tiền vào sản phẩm hay dịch vụ mà nó đem lại. Không cần đến một kế hoạch kinh doanh dày cộp để trình bày ý tưởng đó có giá trị như thế nào, độc đáo đến đâu, mà chỉ cần một cuộc đối thoại ngắn với nhà đầu tư thật sự quan tâm. Nếu người sở hữu ý tưởng không chứng minh được sản phẩm (hay dịch vụ) từ ý tưởng ấy tuyệt vời thế nào thì khách hàng càng không thể hiểu rõ. Có người rất say mê với ý tưởng của mình và quá đề cao sự mới mẻ của nó mà không hề biết rằng ý tưởng ấy đã tồn tại và đã thất bại.

Có thị trường cho ý tưởng không?

Để trả lời cho câu hỏi này, phải thực hiện khảo sát và nghiên cứu thị trường một cách cẩn thận. Thị trường đang dư thừa cái gì, thiếu cái gì, còn khoảng trống nào cho mình không. Nếu không có chuyên môn, nên thuê chuyên gia tư vấn thực hiện công việc này một cách chuyên nghiệp nhằm giảm rủi ro ở mức tối thiểu. Một điều quan trọng nữa là các nhà đầu tư chuyên nghiệp thường chẳng mấy quan tâm đến tiềm năng phát triển sản phẩm (hay dịch vụ), mà xem xét ngay đến lợi nhuận có thể thu được. Một sản phẩm (hay dịch vụ) không mang lại lợi nhuận nghĩa là nó không có đất sống, không có gì để kỳ vọng cả.

Điểm mạnh và yếu của ý tưởng?

Xem xét hai mặt của một vấn đề luôn giúp ta có cái nhìn tỉnh táo hơn. Mọi ý tưởng dù tầm thường hay vĩ đại đều có thế mạnh và thế yếu, đều có tỷ lệ thành công hoặc thất bại như nhau khi đưa vào thực hiện. Ý tưởng có thể đưa ra một sản phẩm (hay dịch vụ) độc đáo nhưng thị trường lại không có nhu cầu hoặc nó không phù hợp với văn hóa truyền thống thì sao?

Sẵn sàng hy sinh đến đâu cho ý tưởng?

Cuối cùng, khi bắt tay vào thực hiện ý tưởng, người ta thường dành hết thời gian cho công việc mà bỏ quên cuộc sống riêng tư. Một kế hoạch kinh doanh dù hoàn hảo đến đâu cũng khó thành công mỹ mãn nếu người thực hiện theo đuổi nó một cách thái quá. Hãy kết hợp các mục tiêu kinh doanh và cả nhu cầu của đời sống cá nhân vào kế hoạch kinh doanh. Đó chính là động lực lớn nhất để nỗ lực thực thi ý tưởng, nhằm đạt cho được mục tiêu đã đề ra.
Theo Saga.vn

Kết nối khách hàng & thương hiệu

Đăng bởi: Quý Hải | Nhà tư vấn on 15 thg 3, 2012 | 3/15/2012

[Marketing4u.vn] "Việt Nam có hơn 100 kênh truyền hình, radio, 700 tờ báo, tạp chí, còn có sự bùng nổ của các phương tiện truyền thông mới như internet, forum, mobile, iTV, iMobile và đặc biệt là truyền thông xã hội (social media) và mạng xã hội...". Trong môi trường truyền thông hiện đại, xây dựng thương hiệu phải có những đột phá nhằm tạo nên sự khác biệt. Theo ông George Nguyễn, Giám đốc Điều hành Công ty TBWA Việt Nam, chi nhánh của Tập đoàn quảng cáo đa quốc gia Omnicom, thời gian gần đây, hiện đang có xu hướng nhìn nhận khác về xây dựng thương hiệu là: người tiêu dùng mới chính là chủ của thương hiệu. Vậy thì thương hiệu có những giá trị sống nào phù hợp với người dùng nó? Một thương hiệu giúp người tiêu dùng đạt được điều gì trong cuộc sống của họ? Thương hiệu của bạn tồn tại ở đâu?...

Hiện nay, có rất nhiều cách để người tiêu dùng tiếp cận thương hiệu của doanh nghiệp (DN). Những người làm thương hiệu phải hiểu được họ đang thực sự làm gì, đại diện cho giá trị nào trong cuộc sống? Mục tiêu lớn nhất của đời họ là gì? Họ định làm gì để đạt mục tiêu đó?

“Làm thương hiệu không phải tiêu tốn nhiều tiền, mà phải xác định những việc cụ thể như mình đại diện cho cái gì, làm cho ai. Quan trọng là mình biết cách làm như thế nào. Không hẳn khi bạn làm TVC hoành tráng là tốt. Đã qua rồi cái thời làm thương hiệu theo kiểu: sản phẩm có đặc tính gì hay sản phẩm của mình là tốt nhất, mà cần phải có sự kết nối”, ông George Nguyễn nói.

Tại Việt Nam, bên cạnh phương tiện truyền thông truyền thống gồm hơn 100 kênh truyền hình, radio, 700 tờ báo, tạp chí, còn có sự bùng nổ của các phương tiện truyền thông mới như internet, forum, mobile, iTV, iMobile và đặc biệt là truyền thông xã hội (social media) và mạng xã hội...

Tất cả tạo thành một bức tranh khó chọn lựa (phương tiện) trong việc xây dựng thương hiệu. Trong môi trường truyền thông phát triển theo hướng hiện đại như vậy, thương hiệu không phải là sản phẩm mà là cách làm. Làm sao phải xây dựng được sự kết nối thương hiệu với người tiêu dùng.

Theo đó, để làm thương hiệu không đơn thuần là trả lời câu hỏi mình sản xuất cái gì, mà là mình đại diện cho ai, như thế nào mới làm được. Khi làm thương hiệu, các DN Việt Nam nên nghĩ đến việc xây dựng thương hiệu để cạnh tranh với các thương hiệu nước ngoài.

Khi xây dựng thương hiệu, điều hầu hết các DN đều mong muốn là tăng thị phần và lợi nhuận, và họ chỉ thành công khi chiếm được tâm trí khách hàng.

"Đây là việc không đơn giản bởi hằng ngày có đến hàng nghìn, hàng vạn thông tin quảng cáo về các sản phẩm, thương hiệu trên khắp các phương tiện thông tin đại chúng.

Vậy làm thế nào để thương hiệu của DN được người tiêu dùng chú ý? Theo các chuyên gia, bạn phải viết được một câu chuyện thật ý nghĩa và cuốn hút về thương hiệu.

Câu chuyện của thương hiệu sẽ góp phần trả lời những câu hỏi cơ bản nhất: Tại sao DN quyết định thế này mà không phải thế kia? Tại sao khách hàng cần đến bạn? Tại sao bạn có thể đáp ứng nhu cầu của khách hàng tốt hơn những thương hiệu khác? Tại sao bạn chọn logo kiểu này? Tại sao bạn chọn các thông điệp quảng cáo này? Và tại sao người ta quyết định chọn thương hiệu của bạn chứ không phải là thương hiệu khác?

Các chuyên gia cho rằng, câu chuyện thương hiệu phải hội đủ 3 yếu tố: ý tưởng mạch lạc, rõ ràng; bố cục chặt chẽ; nội dung đặc sắc. Và khi đã có câu chuyện thương hiệu hấp dẫn thì việc còn lại là phải chọn được kênh quảng bá thương hiệu phù hợp.

Nếu như câu chuyện giúp người tiêu dùng chú ý đến thương hiệu, thì hình thức quảng cáo và thiết kế có thể tiếp sức thêm cho hệ thống nhận diện thương hiệu trong tâm trí khách hàng.“Nhưng không có kỹ thuật chung nào cho tất cả các DN, cho mỗi nhóm khách hàng, bởi hiện nay có quá nhiều kênh quảng bá khác nhau. DN phải tùy điều kiện, hoàn cảnh cụ thể và những gì mình hướng tới để lựa chọn kênh quảng bá phù hợp”, ông Đỗ Kim Dũng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Đào tạo quảng cáo Việt Nam (ARTI Vietnam) tư vấn.

theo DNSG

Mười lỗi PR lớn nhất

Đăng bởi: Quý Hải | Nhà tư vấn on 9 thg 3, 2012 | 3/09/2012

[Marketing4u.vn] Mục đích của việc quan hệ công chúng PR là miêu tả sinh động công việc kinh doanh của công ty theo một hình thức và phong cách tốt nhất. Không giống như quảng cáo, PR không trả tiền cho các phương tiện thông tin đại chúng để giữ chỗ đăng quảng cáo. Nhiệm vụ của PR là thu hút các phương tiện thông tin đại chúng chú ý đến bạn và sau đó chính các nhà báo sẽ tự viết bài về các hoạt động kinh doanh của công ty bạn.

Sau đây chúng tôi muốn giới thiệu với các bạn một số lỗi cơ bản khi thực hiện công việc PR:

1.Quỹ thời gian không hợp lý

Thời gian là nhân tố cốt yếu vậy mà nhiều nhân viên quan hệ công chúng lại chưa thấy rõ được tầm quan trọng của chúng. Việc chuẩn bị sắp xếp thời gian dành cho các đầu công việc chủ yếu là nhân tố quan trọng không thể thiếu. Một nhân viên PR cần cân nhắc quỹ thời gian hợp lý để đọc các tạp chí, các tờ báo cũng như các phương tiện thông tin đại chúng khác.

2.Cách sử dụng ngôn ngữ thiếu phong phú

Các thuật ngữ chuyên môn khó hiểu thường không gây được ấn tượng với các biên tập viên, họ là những người có rất ít thời gian để đọc tất cả các ấn bản xếp hàng dài dằng dặc trên bàn làm việc. Khôn ngoan nhất là biết dùng ngôn ngữ một cách giản dị, dễ hiểu và đi thẳng vào chủ đề. 

3.Viết các ấn phẩm kém hấp dẫn

Các lỗi, những từ bị thiếu sót, câu cú thiếu ý tứ, dài dòng văn tự, và có cấu trúc bất cập, thiếu logic là những điểm yếu làm các ấn bản trở thành các sản phẩm kém chất lượng. Bạn cần thu hút sự chú ý của người đọc, vì thế bạn hãy nhanh chóng đi thẳng vào vấn đề chính, và theo đuổi các tin tức về các sự kiện hay các hoạt động. Hãy đảm bảo để những gì bạn viết ra thật cô đọng, súc tích và các chi tiết đều thích hợp.

4.Chú tâm đến cùng

Nếu muốn tiếng nói của mình giành được sự chú ý, thì bạn hãy lường trước các tình huống khi có ai đó gọi điện cho bạn và đặt ra các câu hỏi để biết thêm các thông tin chi tiết. Đã có rất nhiều các doanh nghiệp tự làm hỏng chiến dịch PR của mình vì không chuẩn bị chu đáo để kết thúc câu chuyện PR của mình một cách hoàn hảo. 

5. Quá thổi phồng

Các phóng đại quá mức thường gây ra sự mệt mỏi có thể làm nảy sinh nghi ngờ trong tâm trí người đọc. Xin hãy nhớ: bạn đang cần thu hút sự chú ý các phương tiện thông tin đại chúng, bởi vậy hãy cung cấp cho họ các sự kiện có thật và có giá trị, hãy tránh việc đề cập quá tổng quát và tránh việc thổi phồng.

6. Thường xuyên phát hành các ấn phẩm không mục đích

Cũng giống như việc một đứa trẻ có thói quen khóc khi đòi bú, nếu bạn phát hành các ấn phẩm quá thường xuyên không nhằm một mục đích gì thì công việc PR của bạn sẽ rất ít tiến triển và người ta sẽ không chú ý đến những vấn đề bạn đưa ra. Cho đến khi có điều gì đó thực sự quan trọng xuất hiện, thì các biên tập viên lại đã quen với việc xóa đi những thông tin mà công ty bạn thường gửi đến cho họ. Vì vậy, bạn đừng nên cố gắng dựng lên quá nhiều các câu chuyện không có cơ sở.

7. Không có kiến thức báo chí

Có quá nhiều người thường cố gắng thực hiện một chiến dịch PR một cách thiếu hiểu biết. Việc đọc và thường xuyên cập nhật các thông tin mới nhất giúp bạn nắm được những gì đang diễn ra trên thế giới. Điều này cả đôi đường. Đầu tiên, bạn có thể sử dụng các thông tin địa phương hay thậm chí cả các thông tin trên thế giới để làm chất liệu hay minh họa cho các thông tin mà bạn sẽ đưa ra thêm phần sống động và có tính thuyết phục. Thứ hai, điều này còn giúp bạn có thể chủ động về mặt thời gian hơn trong việc phát hành các ấn phẩm PR.

8. Thiếu kế hoạch

Nếu bạn luôn “ở trên mây trên gió”, thì bạn không thể thực hiện tốt công việc PR được. Thật khó để xác định công việc tiếp theo sẽ là gì nếu bạn không lên trước một kế hoạch hành động. Bạn cần phải quyết định được ở đâu, khi nào, và bằng cách nào bạn sẽ tiếp tục tiến lên. Bạn cũng cần phải rất linh hoạt và luôn có các kế hoạch dự phòng trong đó dự kiến đến các tình huống xấu có thể xảy ra.

9. Không có sự giúp đỡ

Rất nhiều doanh nghiệp tiêu tốn các khoản tiền lớn vào việc thuê các đại lý PR với giá cắt cổ mà trên thực tế không cần thiết phải như thế. Trong khi đó rất nhiều công ty khác lại có hành động ngược lại: cố gắng tự mình làm tất cả mọi việc. Vậy điều quan trọng là các bạn tìm ta được một giải pháp trung hòa hợp lý.

10.Thiếu linh hoạt

Rất nhiều doanh nghiệp gắn bó với một tờ báo và đài truyền thanh, truyền hình cụ thể mà không hề nghĩ đến việc tìm kiếm các đối tác mới. Nếu biết linh hoạt để da dạng các phương tiện truyền thông nhằm thực hiện công việc PR của mình, có nghĩa là bạn đã vượt ra được khôn khổ hạn hẹp và vươn tới nhiều hình thái khác nhằm thu hút sự chú ý rộng rãi hơn. Hiện nay, trên thực tế, người ta đã biết cách tận dụng ưu thế của hình thức thư chào hàng để đưa ra các câu chuyện PR, hơn là gửi các câu chuyện theo một phương thức cũ tồn tại từ lâu là thông qua việc phát hành các ấn bản và các phương tiện thông tin đại chúng.


Nguồn: Bwportal - Anh Hoa (Dịch từ Allbusiness)

Giá trị xúc cảm và việc quản lý các mối quan hệ với khách hàng

Đăng bởi: Quý Hải | Nhà tư vấn on 16 thg 11, 2011 | 11/16/2011

[Marketing4u.vn] "Nếu những giao dịch mua bán không mang lại giá trị nào cho khách hàng thì không bao giờ họ có cảm xúc về chúng.” 

1. Khách hàng luôn cư xử theo cảm xúc

Tiêu dùng cũng là một hoạt động bị cảm xúc ràng buộc.

Không phải lúc nào khách hàng cũng đúng cả. Họ hay mắc sai lầm, họ quên nhiều thứ và họ hay bị lẫn lộn. Nhưng lúc nào họ cũng hành xử theo cảm tính cả.

Trong tiếng Anh, từ consune có nghĩa là “có được”, còn nghĩa của từ emotion là “di chuyển”. Khi hai chữ trên kết hợp lại với nhau sẽ phát sinh một tình huống là khi khách hàng mong muốn có được thứ gì ấy, họ lại thường rất hay thay đổi. Tiêu dùng không phải là một hoạt động vô tư. Nó là kinh nghiệm kết hợp với nhiều loại cảm xúc, tích cực có, tiêu cực có. Và trong những tình huống khác nhau, cảm xúc phát sinh cũng khác nhau và phụ thuộc vào kinh nghiệm có ý nghĩa như thế nào đối với người tiêu dùng.

Có cả hàng trăm định nghĩa về cảm xúc cũng như chính bản thân cảm xúc cũng có hàng trăm sắc thái khác nhau. Trong một quyển sách hơn một trăm năm tuổi, người ta đã liệt kê ra 92 định nghĩa khác nhau về cảm xúc. Các nhà chuyên môn gặp khó khăn trong việc định nghĩa cảm xúc vì mỗi định nghĩa chứa đựng trong chúng một hệ thống các giả định. Cho nên, những định nghĩa có cú pháp chặt chẽ về cảm xúc sẽ khó được ứng dụng hay thậm chí khó hiểu trong cái thế giới đang thay đổi từng ngày này. Một trong những định nghĩa như thế mà chúng tôi đã tìm được là:“Cảm xúc là một phản ứng đễ xúc động được che đậy trước những nhận thức về các tình huống”. Thử tưởng tượng xem những nhân viên thường tiếp xúc với khách hàng hay những công nhân sản xuất sản phẩm trong công ty bạn sẽ phản ứng thế nào khi nghe định nghĩa về cảm xúc trên. 

Có một định nghĩa về cảm xúc của nhà tâm lý học Erik Rosenberg mà chúng tôi thấy gần như là bao quát nhất nhưng vẫn dễ hiểu đối với nhiều người là: “Cảm xúc là những thay đổi tâm - sinh lý sâu sắc, mãnh liệt và đặc thù bắt nguồn từ phản ứng trước một tình huống có ý nghĩa trong môi trường của một người”. Định nghĩa trên của Rosenberg chứa đựng ba nhân tố thiết yếu liên quan đến người tiêu dùng: 

1. Cảm xúc nói cho chúng ta biết điều gì khiến người tiêu dùng bận tâm. 
Khi khách hàng trải qua một cảm xúc nào đó, điều này có nghĩa là có một việc gì đó quan trọng đang xảy đến với họ. Nếu những giao dịch mua bán không mang lại giá trị nào cho khách hàng thì không bao giờ họ có cảm xúc về chúng. Trong nền kinh tế hiện nay, các nhà sản xuất chú trọng vào việc chiêu dụ khách hàng mua sản phẩm bằng cách nói cho họ biết, khi mua và sử dụng sản phẩm ấy, họ và cuộc sống của họ sẽ thay đổi như thế nào, và vì thế, cảm xúc của khách hàng là một vấn đề ần được nhấn mạnh. 

Cảm xúc của khách hàng bị ảnh hưởng bởi ký ức và nhiều nhân tố, trong đó phải kể đến: 
  • Những tình huống trong cuộc sống thường ngày (ví dụ như: sáng nay, khi thức dậy, họ cảm thấy phấn chấn hay bực dọc)
  • Những kỳ vọng đã hình thành sẵn, phần lớn do từ quảng cáo, trước khi bước vào cửa hàng, trước khi gọi một cú điện thoại hay trước khi tìm kiếm một công việc.
  • Nhận thức trước những gì đang xảy ra xung quanh (những gì họ thấy khi bước vào một cơ sở kinh doanh hay một cổng thương mại điện tử, những gì họ nghe thấy, ngửi thấy và cũng có thể cả những gì họ nếm được hay chạm vào được).
  • Danh tiếng hay những gì họ được nghe về một tổ chức nào đó
  • Những giây đầu tiên và những giây sau cùng họ tiếp xúc với người đại diện của công ty
  • Niềm tự hào cá nhân về lựa chọn những giao dịch, nhà cung cấp ưng ý
  • Chất lượng và cảm xúc trong những lần tiếp xúc với người đại diện bán hàng của các loại dịch vụ hay với những khách hàng khác (bao gồm cả những buổi tiếp xúc suông sẻ hay gặp truc trặc), những lời hứa hẹn họ đã đưa ra, những lời mời và cả từ chối, thời gian chờ đợi...
  • Và những hoạt động phát sinh khác. 
Những nhà cung cấp dịch vụ không cần thiết phải nhìn thấu được tâm can của khách hàng nhưng ít ra, họ cũng hiểu được điều quan trọng gì đang diễn ra khi khách hàng họ biểu lộ cảm xúc, dù không trực tiếp. 

2. Cảm xúc nói lên mối quan hệ giữa khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ 
Khi hai người gặp nhau trong một buổi trao đổi thì một tương tác xã hội cũng đang diễn ra. Vì nhiều cảm xúc thường tồn tại rất ngắn ngủi nên tương tác xã hội cũng nhanh chóng thay đổi phương hướng theo cảm xúc. Bằng cách đọc những tín hiệu cảm xúc, có thể nhanh chóng xác định được có phải nhà cung cấp dịch vụ hay khách hàng đang chia sẻ một kinh nghiệm tích cực hay không? Nếu nhà cung cấp dịch vụ tỏ ra không giúp đỡ, thô lỗ hay không quan tâm hoặc ngược lại, sẵn sàng giúp đỡ, thân thiện và quan tâm, thái độ của họ sẽ ảnh hưởng đến khách hàng và họ sẽ đáp lại tương tự. Trên thực tế, trong số tất cả các nhân tố có thể đánh giá được bằng cách nào một nhà cung cấp có thể cung ứng dịch vụ của mình, nhân tố có nhiều khả năng tạo ra những phản ứng tiêu cực nhất là thất bại trong việc “đáp ứng các chuẩn mực lịch sự tối thiểu”. 

3. Cảm xúc giúp ta dự đoán phản ứng của khách hàng 
Nếu khách hàng bạn tỏ ra giận dữ, có thể trong một chừng mực nào đó, họ đang rất sợ hãi và sắp sửa tấn công. Nếu khách hàng cảm thấy sợ hãi, họ buộc phải tháo lui, rời bỏ và không quay trở lại. Còn nếu họ cảm thấy hài lòng, thú vị, vui thích, họ sẵn sàng ở lại lâu hơn và sẽ trở lại để lại có thể trải qua cảm giác đó. Nhìn chung, cảm xúc có thể dự đoán hành vi trong tương lai. 

2. Việc điều khiển cảm xúc bắt đầu từ chính TÔI 

Kiểm soát cảm xúc cần phải có nhận thức

“Để trở thành một tổ chức thân thiện với cảm xúc cần phải có hiểu biết về cảm xúc của con người và nhận thức về những trạng thái cảm xúc của cá nhân.” 

Khách hàng khi đến làm ăn với chúng ta đều đi trên con thuyền cảm xúc của riêng họ. Nhà cung cấp cố gắng gia nhập con thuyền này. Bằng cách nhận ra các mối liên hệ cảm xúc trong quá trình giao dịch, nhà cung cấp dịch vụ có thể lái con thuyền theo hướng tốt nhất cho các bên liên quan. Điều này đòi hỏi phải có hiểu biết về chính mình cũng như những hiểu biết khác. Nó cũng đòi hỏi phải dành hết tâm trí vào nhưng vẫn đảm bảo tính khách quan, khả năng kiểm soát và phản ứng, đặt ra trọng tâm cá nhân và những trọng tâm bên ngoài. 

Sức mạnh của việc hiểu thấu bản thân 
Để trở thành một tổ chức thân thiện với cảm xúc cần phải có hiểu biết về cảm xúc của con người và nhận thức về những trạng thái cảm xúc của cá nhân. Thực tế mà nói, thông qua nhận thức, chúng ta có thể vừa đóng vai trò người diễn viên, vừa đóng vai trò khán giả. Việc tham gia và quan sát một cách chủ động như thế giúp chúng ta hiểu thêm và bản thân mình và những người khác. Nhận thức cho ta thấy được cảm xúc của mình ngay khi chúng được tạo ra, nó còn có thể giúp ta chủ động điều chỉnh trạng thái cảm xúc của mình theo chiều hướng tích cực. sau cùng, khả năng tự nhận thức giúp ta hiểu biết sâu hơn những vấn đề thuộc về hiểu biết vô thức, khiến việc hạn chế ảnh hưởng của các phản ứng vô thức như định kiến, thái độ thù địch trở nên có khả năng hơn nhiều. 

Nhận thức thị giác 
Một bộ phận của nhận thức là nhận thức thị giác. Sức mạnh của nó đã được minh chứng thông qua một thí nghiệm đã được thực hiện ở khoa tâm lý học của đại học Towson State. Các nhà nghiên cứu đặt sinh viên vào môi trường âm nhạc đặc biệt, có tạc dụng làm tinh thần phấn khích. Một nhóm được phát những chiếc gương nhỏ để quan sát phản ứng của mình khi nhạc nền vang lên, nhóm còn lại không được phát gương. Nhóm không thấy được hình ảnh của chính họ trong gương thì không có phản ứng gì trước âm nhạc cả trong khi nhóm còn lại được thấy hình ảnh mình trong gương thì tinh thần trở nên rất phấn chấn. Nghiên cứu này cổ vũ cho những tuyên bố mà ta được nghe từ hàng trăm nhân viên trực tổng đài là họ sẽ làm việc hiệu quả hơn khi nhìn thấy mình trong gương. 

Nhận thức đối với đội nhóm 
Nhận thức có thể giúp toàn đội nhóm cung cấp một dịch vụ tốt hơn. Nhân viên này có thể chỉ ra hành vi đối xử không phù hợp của đồng nghiệp mình với khách hàng và từ đó, mỗi nhân viên sẽ chú tâm hơn đối với từng hành vi của mình và nhờ vậy, chủ động đi đến quyết định có nên tiếp tục những hành vi khiến khách hàng xa lánh ấy không. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của chúng tôi cho thấy, hầu hết nhân viên đều không muốn dính dáng đến những cặp mắt xoi mói. 

Nhận thức cũng dành cho giới lãnh đạo 
Nhận thức cũng có ảnh hưởng lớn đối với cấp lãnh đạo. Ông Allan Church với tổ chức Warner Burke Associates đã làm phép so sánh những giám đốc làm việc hiệu quả cao với những giám đốc làm việc trung bình. Kết luận quan trọng của ông về vấn đề này là những giám đốc làm việc hiệu quả cao luôn đặc biệt chú trọng đến tác phong quản lý của mình còn những giám đốc làm việc với hiệu quả trung bình thì không được như thế. Nói tóm lại, những nhà lãnh đạo sẽ làm việc hiệu quả hơn nếu họ có thể kiểm soát chặt chẽ tác phong của chính mình. 

Văn hóa tổ chức và nhận thức về cảm xúc 
Nếu không có những thảo luận và hiểu biết thấu đáu về cảm xúc trong phạm vi từng nhóm, chúng ta sẽ rơi vào một tình trạng rối loạn tổ chức được biết đến với thuật ngữ: alexithymia do chuyên gia tâm thần học của Đại học Harvard hình thành nên. Alexithymia là hiện tượng một người trải qua nhiều trạng thái cảm xúc nhưng không biết được họ cảm thấy những gì và cũng không biết diễn tả ra sao. Khi những người này biểu hiện cảm xúc thì thật ra họ không biết được điều gì đang xảy đến với mình. Phỏng đoán thuyết phục nhất của các nhà tâm lý là những người mắc triệu chứng trên thường lúng túng và bối rối trước những gì đang xảy ra với mình. Những cảm xúc mãnh liệt khiến họ thấy kinh sợ dù họ không thể diễn tả được thế nào là kinh sợ. Do đó, “những người mất cảm xúc” này cố gắng giữ cuộc sống của họ càng nhạt nhẽo càng tốt, tránh tối đa các tình huống phát sinh cảm xúc mạnh. 

Dĩ nhiên là không thể nói rằng một tổ chức là “không có cảm xúc”. Vì mỗi tổ chức không phải là con người và nhiều vị giám đốc nỗ lực củng cố sự thật ấy bằng cách từ chối xem xét thực tế về các động lực cảm xúc tồn tại trong những bức tường văn phòng. Trong khi những vị giám đốc khác vờ như ủng hộ các liên hệ cảm xúc trong giao dịch với khách hàng thông qua việc yêu cầu đại diện bán hàng của mình dùng lời lẽ hoa mỹ khi chào hỏi. Chúng có thể là những từ ngữ mà người nhân viên không cần thiết phải dùng. Nếu điều này xảy ra, thì những gì khách hàng cảm thấy cũng chỉ là cảm xúc giả tạo.
Theo Business World Portal

Tư vấn Quản trị - Tiếp thị - Thương hiệu

Nhà tài trợ

 
TOP